Phong Nguyệt Thú

Chương 78: Vẫn là nương tử thương ta nhất

Thánh thượng chậm rãi thở dài một hơi. Kỳ thực, đứa con khiến người đắc ý nhất trong lòng ngài vẫn là đại lang. Có điều, làm cha già cũng có tư tâm; đối với đứa con quá đỗi xuất chúng, ngài khó tránh khỏi đôi phần kiêng dè. Giang sơn ngày sau ắt sẽ do hắn kế thừa, còn ngài chẳng qua chỉ muốn ngồi trên ngôi vị hoàng đế thêm vài năm mà thôi. Nào ngờ chứng bệnh này cứ dai dẳng giày vò suốt hai ba năm, gần đây còn nghiêm trọng hơn trước. Ngài bắt đầu nóng nảy, sau cơn nóng nảy là nỗi chán nản cùng tuyệt vọng ngập tràn. Có lúc ngài chỉ hận không thể bổ đầu mình ra, xem rốt cuộc thứ gì đang tác quái, khiến ngài sống không bằng chết.

Quý phi vẫn còn khóc, tiếng khóc khiến ngài mơ hồ trông thấy cảnh nàng ta mai sau khóc tang ra sức đến nhường nào. Thánh thượng dời mắt đi, chỉ nói: “Nàng đừng suy nghĩ lung tung. Thái tử xử sự rất có chừng mực, quyết không làm như lời nàng nói đâu.”

Quý phi vô cùng tức giận: “Bệ hạ, hắn đã liên kết với Nguyên thị rồi, người còn chưa hiểu sao?”

Thánh thượng nói: “Nguyên thị là ngoại gia của hắn, qua lại với Nguyên thị chẳng phải chuyện hết sức bình thường hay sao? Sao vào miệng nàng, lại như trời sắp sập vậy?”

Quý phi thất vọng tột cùng, chợt cảm thấy chí khí của thánh thượng đã tiêu tan sạch. Giờ đây ngài chẳng khác nào kẻ sắp chết, mặc dòng nước cuốn trôi, thậm chí còn nảy ý sống tạm bợ qua ngày.

Nàng chậm rãi đứng dậy, đau buồn nói: “Bệ hạ nằm trong điện Lưỡng Nghi, người là phụ thân của Thái tử, hắn kiêng dè miệng đời đáng sợ, sẽ không làm gì người. Nhưng Tam lang thì sao? Nếu Thái tử quay mũi giáo đối phó nó, Tam lang phải ứng phó thế nào? Tam lang cũng chỉ vì a da thôi mà, chẳng lẽ bệ hạ chẳng đau lòng cho nó chút nào sao?”

Thấy nàng nói gió thành mưa, bệ hạ cũng có phần mất kiên nhẫn: “Vậy nàng muốn trẫm làm thế nào? Chẳng lẽ còn có thể giết đại lang hay sao? Trẫm mang bệnh, để hắn giám quốc là chuyện hợp tình hợp lý, nàng làm như gặp đại địch thế này để làm gì?” Dứt lời, ngài cau mày chán ghét: “Được rồi, mau về điện Bồng Lai đi. Trời rét căm căm, đừng chạy lung tung. Còn chuyện Đông cung, chớ sai người âm thầm rình mò nữa. Làm một kẻ nhàn tản tiêu dao còn hơn cứ đứng ngồi không yên như hiện giờ.”

Nói xong, ngài nhắm mắt, chẳng buồn để ý đến nàng nữa. Quý phi bỗng nhận ra, người nàng hầu hạ suốt hơn hai mươi năm, kỳ thực trước nay luôn giấu kín tâm tư, nàng chưa từng nhìn thấu ngài.

Sự sủng ái của ngài vốn có điều kiện. Càng nâng cao địa vị Bùi thị, triều trước và hậu cung càng cân bằng. Ngài dựa vào Nguyên thị mà gây dựng cơ nghiệp, nhưng khi đại sự thành rồi lại không muốn thừa nhận; ngay cả Thái tử mang một nửa huyết thống Nguyên thị, ngài cũng âm thầm đề phòng. Có thể nói, vừa vong ân vừa ích kỷ.

Ngài nâng đỡ Tam lang, để nó nơi nơi tranh chấp với Thái tử; vậy mà đến khi người làm cha như ngài phải đưa ra quyết định, ngài lại khoanh tay đứng nhìn, chẳng màng sống chết của Tam lang, thật khiến người ta lạnh lòng. Hôm nay nhìn ngài, trên mặt phủ một tầng vàng vọt, chẳng rõ còn chống đỡ được bao lâu. Một khi Thái tử thật sự kế vị, Tam lang liệu còn có ngày lành hay chăng?

Quý phi lòng đầy lo lắng trở về điện Bồng Lai. Nàng ngồi trên sạp lâu quá, chân cẳng lạnh buốt, còn ánh lửa trong chậu than lại hơ đỏ mặt nàng.

Nhớ đến mấy ngày trước bị hoàng hậu đánh đập tàn độc, nàng thấy nghẹn ngang cổ họng. Khi ấy Tam lang dìu nàng trở về, trên đường nghiến răng nói với nàng: “A nương yên tâm, sớm muộn gì con cũng giết Nguyên thị, trút giận cho a nương.”

Số mệnh một số người quả thật cứng cỏi, năm trăm người giữ thành mà vẫn có thể toàn thân trở lui. Nếu đợi đến khi bệ hạ băng hà, Thái tử kế vị, Nguyên hoàng hậu khi ấy sẽ trở thành Thái hậu; muốn báo thù, e rằng càng xa vời hơn nữa.

Quý phi lòng dạ nóng như lửa đốt, chậm rãi siết chặt vạt váy trên đầu gối. Khoảng thời gian này sóng ngầm cuồn cuộn, nàng ở trong cung mà lòng vẫn luôn treo lơ lửng, linh cảm sớm muộn cũng có ngày xảy ra đại sự. Nàng khéo chiều ý thánh thượng bao năm, chỉ cốt làm ngài vui lòng, nâng Tam lang lên ngựa. Giờ đây thánh thượng bệnh đến nỗi chẳng còn chút khí lực, thành kẻ mở mắt cũng như mù, tất cả rốt cuộc vẫn phải do nàng tự mình mưu tính.

Đến tận chập tối, nàng mới đợi được cận thị bên cạnh Tam lang tới báo tin: hai ngày nữa, cấm quân ở các cung môn sẽ đổi phiên, trên cửa Gia Phúc và cửa Thông Huấn đều sẽ thay bằng cấm quân Nam nha. Đến khi ấy, bọn họ định hành động. Thế lực của Lăng Tố hiện nay quá lớn, nếu cứng đối cứng, e rằng không có phần thắng. Chi bằng đóng cửa bắt ba ba, trước tiên chém đầu Lăng Tố, rồi phái một toán người khác bao vây phủ Ung vương, một phen chém chết Lăng Hồi, đại công ắt thành.

Quý phi nghe kế hoạch, cả người không khỏi run lên, vội hỏi: “Việc này đã bàn bạc với Tả tướng chưa?”

Cận thị khom người đáp: “Đại vương nói việc gấp phải tùy cơ ứng biến, không kịp bàn bạc.”

Nhưng Quý phi biết Lăng Liệt nóng nảy, còn Bùi Trực lại do dự trước sau, chủ trương hoãn binh. Bởi vậy, trong chuyện đại sự, Lăng Liệt không bàn với ông ta nữa, hẳn là sợ Bùi Trực dùng một tràng đạo lý ngụy biện làm dao động lòng quân.

Thế nhưng khởi sự vội vàng như vậy, liệu quả thật có đáng tin không? Quý phi run sợ hỏi: “Đại vương có kế sách vẹn toàn chăng?”

Cận thị đến bẩm báo chính là để Quý phi yên lòng, bèn đáp rằng có: “Trong phủ đại vương có bảy mươi hai mưu sĩ, tự khắc sẽ thay đại vương thu xếp chu toàn. Có điều đại vương cũng sai thần chuyển lời đến nương tử: phú quý phải cầu trong hiểm nguy, cứ ngồi chờ e chẳng đợi được thăng quan tiến tước, mà chỉ đợi lưỡi đao chém xuống. Thay vì để người khác khống chế, chi bằng ra tay trước chiếm thế chủ động. Bên ngoài đã sắp xếp thỏa đáng, xin Quý phi nương tử an tâm, chỉ việc chờ tin chiến thắng của đại vương.”

Quý phi vốn chỉ có dã tâm, nhưng lại không đủ trầm tĩnh. Cận thị vừa đi, nàng lại thấp thỏm bất an. Nghĩ ngợi hồi lâu, nàng vẫn gọi người hầu cận là yết giả đến, sai hắn chạy một chuyến tới phủ Tả bộc xạ.

Bùi Trực nghe tin, sợ đến hồn vía gần như bay mất, lẩm bẩm: “Tên khốn chẳng có đầu óc này, không muốn sống nữa hay sao? Nó muốn chết thì cứ tự đi mà chết, còn muốn hại cả tộc Bùi gia bồi táng cùng nó. Trời xanh ơi, chuyện này biết phải làm sao đây!”

Thật ra, người cậu như ông ta có thể nói là chẳng có lấy nửa phần tôn nghiêm. Sự kiêu ngạo của Lăng Liệt chẳng phân thân sơ, dù là chí thân, hắn cũng chẳng để vào mắt. Còn Bùi gia quả thực chẳng phải môn hộ hiển hách; Bùi Trực đi được đến ngày hôm nay, bốn phần nhờ tài cán, sáu phần nhờ vận may. Trong mắt Lăng Liệt, nếu không có mẫu thân hắn thì người cậu này nào có được bổng lộc cao sang.

Một kẻ dựa vào quan hệ thông gia để thăng tiến, đến cả cháu ngoại cũng chẳng được coi trọng. Sau lần lợi dụng chuyện Cao Tồn Ý thất bại, Lăng Liệt đã hoàn toàn vạch rõ giới hạn với ông ta, thậm chí lời lẽ còn ngầm trách móc, nói ông ta do dự thiếu quyết đoán, chẳng khác nào Lăng Tố.

Lăng Tố là kẻ do dự thiếu quyết đoán ư? Bùi Trực cảm thấy hắn đúng là điên rồi. Nghe Thánh thượng nhân cơ hội buông một câu chèn ép, hắn vậy mà lại tin là thật, quên sạch dáng vẻ Lăng Tố trên sa trường năm xưa. Giờ thì hắn quả quyết rồi đấy, nhưng nghĩ ra được cách gì? Tấn công Đông Cung, vây quét Ung vương phủ ư?

Điên rồi… điên thật rồi… việc này căn bản không thể thành. Hắn điên dại thì chẳng sao, nhưng cả nhà họ Bùi phải làm thế nào? Nam bị sung quân, nữ bị đưa vào giáo phường, cả đời làm nô tỳ, làm kỹ nữ ư?

Bùi Trực lùi liền hai bước, thoáng chốc ngồi phịch xuống sập. Trời tháng Chạp, người ông ướt đẫm như vừa được vớt khỏi nước, mồ hôi lạnh ròng ròng chảy xuống từ thái dương.

Gia sử đứng bên hết lời khuyên nhủ: “A lang, đây là chuyện liên quan đến tính mạng, tuyệt đối không thể xem nhẹ. Chuyện lần trước, tuy Thái tử chưa truy cứu, nhưng trong lòng chưa chắc đã không ghi hận A lang. Lần này gây ra họa lớn đến vậy, ắt sẽ bị liên lụy, chỉ xem A lang cảm thấy có đáng hay không thôi.”

Còn có gì đáng hay không đáng nữa? Ai lại đem tính mạng cả nhà ra bồi bọn họ mẫu tử phát điên! Bùi Trực sống đến tuổi này, trên có người già, dưới có con nhỏ, đã qua cái tuổi bốc đồng hành sự. Ông cũng nhìn rõ rồi, cho dù sau này Lăng Liệt có tiền đồ lớn, chưa chắc sẽ nhớ đến ân tình của người cậu này. Trước mắt hắn lại sắp nổi cơn điên, liên lụy cả mẫu tộc, ông tuyệt đối không thể giả câm giả điếc. Phải biết núi lớn đè xuống như thế, người họ Bùi chẳng một ai thoát được.

Gia sử quan sát sắc mặt ông, thăm dò hỏi: “A lang, có cần đến phủ Thương vương một chuyến, khuyên vương gia thêm lần nữa, bảo ngài ấy suy nghĩ kỹ rồi hãy làm không?”

Bùi Trực chậm rãi lắc đầu: “Hắn vốn chẳng định bàn chuyện này với ta. Ta đường đột đến tìm hắn, chẳng những không ích gì, có lẽ còn phải nghe hắn buông lời cay nghiệt.”

Gia sử đã hiểu ý ông: “Nếu vậy, tiểu nhân đi chuẩn bị xe ngựa. Lang chủ muốn vào Đông Cung ngay bây giờ chăng?”

Bùi Trực vẫn lắc đầu: “Quá rêu rao, cứ chờ thêm đã. Đợi ngày mai đến chính sự đường rồi hãy nói chuyện này.”

Đêm ấy có thể nói là trằn trọc khó ngủ, canh hai đã khoác áo ngồi dậy.

Phu nhân trên giường nhận ra, chống người hỏi: “Sao vậy? Chờ trời sáng đến mòn mắt à?”

Ông không kiên nhẫn đáp lời, chỉ nói: “Bà ngủ đi, đừng lo chuyện của ta.”

Khó khăn lắm mới chịu đựng đến canh năm, ông đầu nặng chân nhẹ đứng dậy thay áo, rửa mặt chải đầu, đợi tiếng trống khai thị vang lên liền thúc ngựa thẳng đến cửa cung.

Khoảng thời gian này không thiết triều, nhưng các quan vẫn tụ họp ở hai triều đường Đông Tây để tâu trình chính sự. Đợi Bí thư tỉnh thu thập tấu sớ, phân định mức độ khẩn yếu rồi chuyển riêng đến Đông Cung và chính sự đường.

Bùi Trực cầm tấu sớ bổ nhiệm, miễn nhiệm quan viên Bộ Hộ, quanh quẩn trước cửa hồi lâu, khiến Trung thư lệnh và những người khác không khỏi liếc nhìn.

Cuối cùng, vẫn là Tân Đạo Chiêu hỏi trúng tim đen: “Bùi tướng, ngài định đẻ trứng sao? Cửa này sắp bị ngài giẫm thành ổ mất rồi.”

Bùi Trực tức tối lườm ông một cái, siết mạnh tấu sớ trong tay, nhấc chân bước khỏi chính sự đường.

Ông đi thẳng về phía bắc, xuyên qua cửa Thừa Thiên, tiến thẳng vào Đông Cung. Khi ấy Lăng Tố đang cùng Thái tử tân khách bàn luận chính sự. Thấy ông bước vào, chủ đề cũng tạm dừng. Bùi Trực chắp tay hành lễ: “Điện hạ, thần có việc hệ trọng, xin được một mình tấu trình Điện hạ.”

Lăng Tố đáp lời, khẽ nâng ngón tay, cho mọi người trong điện lui xuống.

Hắn không chấp chuyện cũ, vẫn khách khí đưa tay mời: “Tả tướng, mời ngồi.”

Bùi Trực không ngồi, bỗng quỳ một gối xuống: “Điện hạ, thần có cơ mật, xin liều chết can gián Điện hạ.”

Lăng Tố nhìn qua liền đoán được phần nào, đưa tay đỡ hờ, ôn tồn nói: “Tả tướng quá lời rồi. Có gì cứ nói, không cần như vậy.”

Bùi Trực đứng thẳng dậy, song vẻ mặt đầy lo âu, chắp tay thưa: “Hôm qua, quý phi trong cung bỗng sai người truyền lời cho thần, báo cho thần một bí mật kinh thiên. Thương vương định vào giờ Tý đêm mai, nhân lúc cấm quân hai nha đổi phiên mà bất ngờ tập kích, giết vào Đông Cung. Nghe xong, thần kinh hãi cả đêm không ngủ. Quý phi tuy là bào muội của thần, Thương vương tuy là cháu ngoại thần, nhưng thần còn là trung thần Đại Lịch, không dám cùng bọn họ thông đồng làm bậy. Thần và Điện hạ, hoặc nói với Tân tướng, vốn có nhiều chỗ bất đồng về chính kiến, ấy cũng chỉ là suy xét riêng mỗi người khó lòng dung hòa, chẳng đáng ngại. Nhưng việc mưu nghịch như thế, thần thực không dám tham dự. Sau khi biết tin, thần lập tức muốn đến bẩm báo Điện hạ, cũng xin Điện hạ đề phòng, tuyệt đối chớ lơ là.”

Nói xong những lời ấy, ông như trút được gánh nặng. Dù sao sự việc đã đến nước này, cho dù sau đó Thái tử bãi chức quan của ông, cũng tốt hơn cả nhà chịu tội.

Nói thật lòng, dĩ nhiên ông mong Lăng Liệt có thể đăng đỉnh, đến lúc ấy chấn hưng gia môn họ Bùi, cũng có thể phân cao thấp với những vọng tộc trăm năm kia. Nhưng xem tình hình hiện tại, Lăng Liệt quả thực quá lỗ mãng, cánh chim chưa đủ lông đã muốn bay cao, đến cuối cùng chẳng qua sẽ ngã đến tan xương nát thịt. Còn ông thì không dám cùng hắn mạo hiểm phen này.

Giờ đây quy thuận, chỉ mong vẫn còn kịp.

Ông dè dặt quan sát thần sắc Thái tử, thấy giữa mày hắn chẳng có chút lo âu nào, cứ như mọi chuyện đã sớm nằm trong dự liệu, lòng càng mừng vì mình đã làm đúng.

Còn Lăng Tố, nghe ông nói xong, chậm rãi gật đầu: “Tả tướng gìn giữ chính thống, có lòng đại nghĩa diệt thân, khiến cô vô cùng kính phục. Không giấu gì Tả tướng, Tam lang không phục vị huynh trưởng này là cô, xưa nay cô vẫn biết. Nhưng cô không ngờ hắn lại có thành kiến sâu nặng với cô đến vậy. Huynh đệ ruột thịt, nhất định phải tranh đến ngươi chết ta sống mới cam lòng sao? Cô thật sự không hiểu, tình nghĩa thuở nhỏ đã đi đâu, tình nghĩa cùng sống cùng chết trên chiến trường lại đi đâu mất rồi.”

Nếu bàn đến chuyện này, Bùi Trực cũng thấy chột dạ. Ông đâu thể nói quyền thế mê hoặc lòng người, đổi lại là ai cũng sẽ động tâm! Đành giấu tay trong tay áo, vâng dạ liên hồi, hết lời cầu Điện hạ khoan thứ, đồng thời tiện thể tỏ rõ lập trường.

Lăng Tố nói: “Tấm lòng của Tả tướng, cô đã rõ. Xin cứ yên tâm, cô không làm chuyện liên lụy cả nhà. Tả tướng cứ yên lòng. Nhưng biến cố lần này hệ trọng, cô đã có cách ứng phó, không muốn đánh rắn động cỏ. Tả tướng hiểu ý cô chứ?”

Bùi Trực liên tục vâng lời. Đương nhiên ông hiểu rõ kế hoạch của Thái tử. Lăng Liệt hồ đồ, vừa khéo tự chui đầu vào lưới. Ông không muốn thời cơ tốt đẹp như vậy bị hỏng vì tin tức để lộ, cứ để Lăng Liệt tưởng rằng ông không hay biết gì; đến lúc ấy mời quân vào rọ, những chuyện về sau sẽ dễ xử lý hơn.

Lăng Tố ôn hòa mỉm cười: “Tả tướng về đi, chớ thấy Đông cung của ta phòng thủ kiên cố như thùng sắt, kỳ thực bên trong cũng có tai mắt do bọn họ cài vào. Nếu để người ta mách tội đến chỗ Quý phi, Tả tướng sẽ khó xử cả trong lẫn ngoài.”

Bùi Trực nghe vậy, trong lòng khẽ run, thầm nghĩ: Hóa ra hắn biết hết mọi chuyện. Có thể âm thầm nhẫn nại đến tận hôm nay, quả nhiên rất am tường đạo trị quốc của bậc trữ quân, giấu tài chờ thời.

Ông chắp tay cúi lạy thật sâu, vừa thở dài vừa lui khỏi Sùng Chính điện. Tiếp theo Tam lang sẽ ra sao, ông không biết; Bùi gia sẽ đi về đâu, ông cũng chẳng hay. Mọi sự đành nghe theo ý trời vậy!

Lúc này, Lăng Tố một mình ngồi trong điện hồi lâu. Tuy đã sớm biết Lăng Liệt ôm lòng đoạt đích, nhưng hắn không ngờ, dưới sự dẫn dắt từng bước của mình, đối phương quả nhiên lại nôn nóng đến thế.

Nếu còn chút tình nghĩa huynh đệ, thì không nên làm đến nước này. Đại Lịch khai triều chưa được nửa năm, chưa đầy nửa năm mà người hay quỷ đều đã lộ nguyên hình, thật đáng tiếc.

Bởi vậy, mẫu thân hắn quả là có tầm nhìn xa. Hôm ấy, sau khi đánh Quý phi, bà đã nói với hắn rằng mấy roi kia chỉ là mồi dẫn, mẹ con Lăng Liệt không thể nhẫn nhịn, muốn báo thù thì ắt sẽ ra tay ngay trước mắt. Quả nhiên lời ấy ứng nghiệm. Chưa đầy nửa tháng, cá đã cắn câu. Lăng Tố không phải kẻ mềm lòng; đã không tránh được cảnh cốt nhục tương tàn, vậy cứ thản nhiên đối mặt thôi.

Hắn đứng dậy, khoác áo choàng rồi lên ngựa trở về hành viên. Vừa bước vào hậu viện, đã thấy Cư Thượng ngồi bên cửa sổ may vá, đầu hơi cúi, để lộ một đoạn cần cổ trắng ngần, thon dài. Hắn lặng lẽ đứng đó ngắm nàng. Chỉ cần có nàng bên cạnh, hắn đã cảm thấy tháng ngày bình yên. Giữa cõi trần đục ngầu này, ít nhất vẫn còn có lòng người đáng để mong chờ.

Đúng lúc nàng ngẩng đầu, cách màn tuyết mỏng rơi lất phất trong sân, nàng trông thấy hắn. Nàng không như hắn tưởng tượng, miệng gọi lang quân rồi vội vàng đứng dậy ra đón, mà chỉ “này” một tiếng: “Đứng ngây ra đó làm gì? Chàng không lạnh à?”

Ôi, xem ra muốn nàng dịu dàng nhỏ nhẹ với hắn là chuyện chẳng thể trông mong. Nhưng ngay trong tiếng “này” ấy, hắn vẫn nghe ra được mối quan tâm sâu đậm.

Hắn nở nụ cười, bước nhanh vào Tây viện. Thấy nàng đang mân mê vải vóc trong tay, hắn hiếu kỳ hỏi: “Mới sớm thế này đã may áo nhỏ cho con rồi à? Cần gì tự tay làm, cứ giao cho Nội bộc cục là được.”

Cư Thượng tặc lưỡi: “Chàng có mắt nhìn kiểu gì vậy? Đây nào phải áo nhỏ, là miếng bọc đầu gối cho chàng đấy.” Nàng vừa xỏ kim vừa nói: “Lần trước ta thấy miếng bọc đầu gối của chàng đã sờn rách, nên nổi lòng từ bi may thêm cho chàng một đôi. Dùng đến lập xuân năm sau hẳn vẫn không vấn đề gì.”

Nghe vậy, hắn vô cùng cảm kích, bước đến ôm lấy nàng: “Vẫn là nương tử thương ta.”

Cư Thượng nghiêng đầu, cảm khái: “Nghĩ lại thuở trước, ta là nữ lang kiêu ngạo bất kham đến nhường nào, không ngờ nay lại sa sút đến mức phải may vá cho chàng. Đúng là thời thế vận mệnh.”

Hắn nịnh nọt: “Năm xưa ta cũng là tướng quân tay cầm đao, ngựa cưỡi chiến trường, giết sạch quân thù. Nay chẳng phải vẫn luôn canh cánh nhớ đến nàng sao? Chỉ cần có chút động tĩnh, người đầu tiên ta nghĩ tới chính là nàng.”

Hai người trao nhau ánh mắt, rất có ý anh hùng tiếc anh hùng.

Có điều, bây giờ không phải lúc may vá. Lăng Tố ra hiệu cho người đứng hầu trong ngoài lui xuống, cầm lấy miếng bọc đầu gối trong tay nàng đặt sang bên, nghiêm mặt nói: “Ta có chuyện muốn nói với nàng. Hai ngày này, nàng về phường Đãi Hiền trước đi. Ta sẽ âm thầm phái người canh giữ toàn bộ phường viện. Đợi sóng gió qua rồi, nàng hãy trở lại.”

Thấy vẻ mặt hắn nghiêm nghị, Cư Thượng lập tức nhận ra có chuyện khác thường: “Xảy ra chuyện gì rồi? Bình thường ta muốn về nhà, chàng cứ khó chịu không chịu, lần này sao lại chủ động đề nghị?” Còn phái binh canh giữ, rõ ràng là sắp đánh trận, tuyệt đối không phải chuyện hắn tranh thủ nạp thiếp đơn giản như thế. Nàng nắm chặt tay hắn: “Sao vậy? Mau nói đi, đừng để ta đoán.”

Lúc này Lăng Tố mới thành thật khai báo: “Tam lang muốn đánh úp Đông cung ban đêm, e rằng cũng sẽ không bỏ qua hành viên. Nàng ở đây không an toàn, chi bằng về nhà, cũng có người chăm nom.”

Cư Thượng nghe xong, lập tức ngồi thẳng dậy: “Về nhà là an toàn sao? Ta lại thấy ở cạnh chàng mới là an toàn nhất. Ta không về phường Đãi Hiền, ta muốn theo chàng. Chàng ở đâu, ta ở đó. Khỏi cần khuyên ta, cứ quyết định vậy đi.”

Lăng Tố đành bất lực: “Đây không phải chuyện đùa, ở cạnh ta nàng sẽ gặp nguy hiểm.”

Cư Thượng đáp: “Vậy càng phải ở cạnh nhau. Ta muốn cùng lang quân đồng cam cộng khổ. Hơn nữa, chàng sẽ để bản thân gặp nguy hiểm sao?”

Lăng Tố nghĩ ngợi, quả đúng là vậy: “Gánh nặng trên vai, ta không dám liều lĩnh.”

Bởi thế, cơ hội tốt thế này sao có thể bỏ lỡ. Ngày trước Hoàng hậu giữ thành, sau này sử sách ắt sẽ ghi lại một nét huy hoàng. Còn nàng, lúc hoạn nạn vẫn không rời bỏ Thái tử, ít ra cũng có thể khoe khoang cả đời. Lúc này mà trốn về nhà mẹ đẻ, chẳng phải ngốc lắm sao?

Huống chi để người trước mắt một mình đối mặt, nàng cũng không yên lòng. Nàng đã học cưỡi ngựa bắn cung bao năm, vậy mà chưa từng có dịp dùng đến. Nay Tam lang họ Lăng đã bắt nạt đến tận cửa, với thân phận Thái tử phi, nàng có trách nhiệm bảo vệ Thái tử điện hạ.

Nghĩ đến đây, nàng bật phắt xuống sạp, đi vào gian trong một vòng rồi cầm thanh bảo kiếm bước ra. “Keng” một tiếng, lưỡi kiếm tuốt khỏi vỏ, hàn quang bốn phía; nàng khẽ vung kiếm: “Nhìn xem, Hô Lôi của ta có sáng không? Bảo kiếm phủ bụi trên lầu cao đã nhiều năm, lần này đến lượt nó xuất sơn rồi. Cứ xem ta giết đám phản tặc kia tan tác không còn mảnh giáp!”

Chuyện vốn nghiêm trọng như vậy, đến miệng nàng lại bỗng trở nên buồn cười. Quả nhiên nàng là một nữ lang chẳng giống ai, tự có khí phách hào hùng chẳng kém đấng nam nhi.

Hắn đưa ngón tay khẽ gảy lên thân kiếm. Ánh bạc rung lên, tiếng ngân kéo dài văng vẳng. Hắn nói: “Kiếm tốt! Có điều nàng mang kiếm đến hành viên làm gì? Trước kia ta lại không nhận ra, nàng đem theo để phòng ta sao?”

Cư Thượng thầm nghĩ chuyện trước kia thôi đừng nhắc nữa, quan trọng là hiện tại: “Dù sao cũng đã quyết định rồi. Ta mang đầy mình võ nghệ, nhất định phải ở lại Đông cung, cùng chàng kề vai tác chiến.”

Lăng Tố nghĩ một lát rồi nói: “Nàng có thể vào cung, nhưng đừng ở lại Đông cung. Hãy đến chỗ mẫu thân, thay ta chăm nom bà.”

Cư Thượng có chút không nỡ: “Nhưng ta vẫn muốn ở bên chàng.”

Ánh mắt hắn lập tức dịu đi. Hắn nhận lấy thanh kiếm đặt sang bên, ôm nàng vào lòng, nhẹ giọng khuyên nhủ: “Đông cung cách điện Thần Long rất gần. Nếu Đông cung thất thủ, điện Thần Long cũng sẽ nguy ngập. Nàng thay ta bảo vệ mẫu thân, đó là công lao lớn biết bao, nàng không muốn lập công sao?”

Quả nhiên, người từng chung chăn gối chỉ cần liếc mắt đã nhận ra cội nguồn của lòng can đảm đơn độc ấy trong nàng.

Tân Cư Thượng hào khí ngút trời: “Cũng phải, con phải bảo vệ a nương. Bảo vệ được a nương, con sẽ chẳng còn nỗi lo sau lưng.” Thế nhưng vừa dứt lời, nàng lại lưu luyến nhìn hắn: “Còn chàng thì sao? Chàng sẽ bình an vô sự chứ?”

Hắn nói sẽ. “Thật ra, ngày này chúng ta đã chuẩn bị từ lâu. Biết rằng cuối cùng khó tránh một phen sóng gió, chuyện sớm đến thì sớm khiến người an lòng. Đợi trừ bỏ nỗi lo sau lưng này, chúng ta có thể yên ổn sống qua ngày. Nàng cũng chẳng cần nơm nớp lo sợ, cứ an tâm làm Thái tử phi của nàng là được.”

Cư Thượng thở phào một hơi, nghiến răng đáp được, rồi lập tức thu xếp, theo hắn vào Đông cung. Nàng vẫn như thường ngày, ngồi nằm trong điện Lệ Chính; đến chập tối, nàng đặt kiếm vào hộp đàn, cùng mang đến điện Thần Long.

Khi ấy, Hoàng hậu đang ngồi trong điện. Thấy con dâu bước vào, bà ôn hòa hỏi: “Là Đại lang bảo con đến ư?”

Cư Thượng đáp phải, vỗ vỗ ngực: “A nương yên tâm, con sẽ ở bên bảo vệ a nương.”

Hoàng hậu bật cười, gật đầu nói được. Bà đứng dậy, chậm rãi bước ra đài trước điện, phóng mắt nhìn về phía Đại Minh cung. Ánh mắt xa xăm mà sắc bén, tựa chim ưng, bà lẩm bẩm: “Không biết Quý phi đang làm gì nhỉ? E là đang mơ tưởng chặt đầu ta rồi!”