Cho nên, chuyện tình cảm quả thật phiền phức. Tiểu nương tử trước kia chỉ cần ăn no ba bữa rồi ngả lưng là vui vẻ, nay cũng bắt đầu nhớ nhung Thái tử điện hạ.
Dược Đằng đi tới, ngồi xuống ghế con, cố gắng an ủi nàng: “Hôm nay Điện hạ có công vụ, ngày mai nhất định sẽ về. Tiểu nương tử đừng sốt ruột, ngủ một giấc, trời sáng chẳng phải là sang ngày mai rồi ư?”
Cư Thượng bảo nàng không hiểu: “Ta chỉ thấy lòng bâng khuâng thôi, ngủ cũng không được. Trước kia ta chưa từng như vậy.”
Quả đúng là thế. Bất kể là Điện hạ Tồn Ý hay Lục Quan Lâu, đều chưa từng quấy nhiễu giấc mộng đẹp của tiểu nương tử. Nay vì Thái tử điện hạ mà trằn trọc, đủ thấy tiểu nương tử thật sự đã đem lòng yêu mến Điện hạ.
Dược Đằng nói không sao: “Nhớ thì cứ nhớ thôi, dù sao nương tử nhớ Điện hạ cũng danh chính ngôn thuận. Tối nay không ngủ được thì thôi, tỳ nữ ở bên nương tử trò chuyện, nói tới sáng.”
Cư Thượng khó xử nhìn nàng một cái: “Vừa rồi chẳng phải ngươi buồn ngủ lắm sao, sao còn trò chuyện với ta được?”
Dược Đằng đáp: “Tỳ nữ sẽ mở mắt ra.” Vừa nói, nàng vừa kéo mí mắt lên, “Như thế này.”
Cư Thượng nhìn nàng, bật cười. Đây là trò các nàng thường chơi thuở nhỏ, giờ đột nhiên nhớ lại, nàng bỗng thấy hoài niệm những tháng ngày niên thiếu.
Dược Đằng đặt hai cánh tay lên mép giường, nghiêng đầu gối lên cánh tay, khẽ hỏi: “Tiểu nương tử, người nói người nhớ Điện hạ, chỉ là nhất thời, hay sau này vẫn sẽ như vậy?”
Cư Thượng nghĩ ngợi rồi đáp: “Chắc chỉ là nhất thời thôi. Bây giờ thấy mới mẻ, nên mới mất ngủ.”
Dược Đằng khẽ “ừm” một tiếng, lẩm bẩm: “Ngàn vạn lần đừng vì ai mà trà chẳng buồn uống, cơm chẳng buồn ăn. Người xem nhị nương tử dạo trước ấy, ngày nào cũng chờ tin tức của vị quận hầu kia. Linh Thước nói với tỳ nữ, nương tử nhà nàng ấy như thể bị ma ám, nhìn mà đáng sợ.”
Cư Thượng khẽ cười nhạt: “Yên tâm đi, ta yêu bản thân trước rồi mới yêu người khác, sẽ không vì một nam nhân mà hóa thành kẻ mất trí đâu. Nói mới nhớ… hình như tháng sau ngũ tẩu sẽ thành thân. Hôm trước người phái đi chưa dò hỏi rõ ràng, ngươi tìm cách hỏi thăm cho kỹ lại đi.”
Dược Đằng vâng lời, rồi nói tiếp: “Tiểu nương tử, tỳ nữ thấy ngũ nương tử có phần nhẫn tâm. Nếu nàng ấy thật sự đi lấy chồng, vậy Hòa Nguyệt phải làm sao? Ngũ lang quân đã rời Trường An, đi vân du thiên hạ, nàng ấy lại sắp gả làm vợ người khác. Hòa Nguyệt đáng thương quá. Cho dù trưởng bối trong nhà đều thương yêu con bé, nó cũng chẳng thể vô lo vô nghĩ như những đứa trẻ khác. Người nói có phải không?”
Cư Thượng cảm thấy chuyện này thật khiến người ta khó xử. Hòa Nguyệt đáng thương, nhưng ngũ tẩu cũng đáng thương chẳng kém. Một mái nhà đang yên lành bỗng tan vỡ. Trước khi xuất giá, cô nương nào trên đời cũng ôm đầy mong đợi về hôn nhân, nào ngờ đã tận tâm tận lực suốt bao năm, cuối cùng vẫn bị hôn nhân giáng cho một đòn. Nay đã có con rồi, chẳng lẽ nàng ấy thật sự phải chịu khổ sở triền miên vì đứa trẻ hay sao?
Nàng thở dài, nói: “Sau này chúng ta hãy quan tâm Hòa Nguyệt nhiều hơn.”
Dược Đằng gật đầu: “Phải đấy. Nếu có cô mẫu chăm nom, tiểu nương tử Hòa Nguyệt sẽ chẳng còn khổ sở, địa vị cũng cao hơn người ta một bậc.”
Cư Thượng chớp đôi mắt cay xè: “Đợi ta bàn bạc với Điện hạ, vài năm nữa đưa Hòa Nguyệt về bên cạnh nuôi nấng cũng được.”
Chợt nhận ra trong dự định tương lai, đâu đâu cũng có bóng dáng Lăng Tố, nàng không khỏi lại thở than: “Chàng không về, ta chẳng ngủ được…”
Thật ra dù chàng có về, hai người cũng mỗi người ở một tòangủlầu. Chẳng qua sau khi mở cửa sổ, nàng biết người ấy đang ở cách đó không xa, gọi một tiếng là chàng nghe thấy. Trong lòng có chỗ dựa, dẫu giá rét giữa tháng Chạp cũng chẳng còn sợ cô quạnh.
Dược Đằng nhìn nàng đầy thương cảm: “Tiểu nương tử nay cũng thành người phàm tục, để tình ái làm khốn đốn rồi.”
Cư Thượng hỏi: “Thế sao? Vậy cứ phàm tục một chút đi, làm người phàm tục cũng tốt.”
Sau đó hai người lại chuyện trò đôi câu chuyện thường ngày. Dược Đằng nói chuyện hăng say, nhưng hồi lâu chẳng nghe nàng đáp lời. Ngẩng đầu nhìn lên, nàng đã ngủ say sưa. Dược Đằng lầm bầm: “Chẳng phải nói nhớ đến mất ngủ, tối nay còn định thức trắng ư…”
Nỗi niềm đứt ruột của tiểu nương tử chỉ thoáng qua từng cơn, thường chỉ đa sầu đa cảm vào lúc đêm khuya.
Sáng hôm sau thức dậy, nàng lại hoạt bát như thường.
Bởi những lễ nghi lớn do Lễ bộ ty phụ trách giảng dạy đều đã học xong, Cư Thượng lúc này chẳng khác nào học trò hoàn thành bài vở, chỉ chờ ngày nghỉ tuần, nhàn rỗi không có việc gì làm, trong lòng vui vẻ vô cùng.
Đã nhàn rỗi, mà ngày đản tiết còn mấy hôm nữa, nàng bèn muốn về nhà thăm một chuyến. Tới tiền viện, nàng thấy gia lệnh đang quấn chăn nỉ, ngồi trước chậu than uống trà. Thấy nàng đến, ông vội đứng dậy: “Bên ngoài lạnh lắm, sao nương tử lại ra ngoài?”
Cư Thượng mỉm cười: “Ta muốn về nhà một chuyến. Điện hạ chưa từng dặn không cho ta ra ngoài, phải không?”
Gia lệnh vội xua tay: “Sao có thể chứ? Nương tử cứ tự do đi lại. Thần sẽ cho người chuẩn bị xe ngay, chỉ cần bẩm báo với Điện hạ một tiếng là được.”
Vậy thì tốt. Cư Thượng bình thản chờ bên ngoài, đợi người thắng xe xong. Đến mùa đông, xe ngựa trong hành viên được sắp đặt vô cùng tinh xảo: trong xe có lò sưởi, bốn phía phủ kín nỉ dày, trên mui còn treo một quả hương cầu. Dẫu xe ngựa lắc lư thế nào, khói hương trong quả cầu vẫn không ngừng vấn vít. Đúng là xe đẹp ngựa thơm trong thơ người xưa.
Xe đi suốt một đường xuyên qua phường xá, tới phường Đãi Hiền. Bước xuống xe, nàng thấy con đường đã quét dọn lại phủ một lớp tuyết mỏng, giẫm lên nghe tiếng lạo xạo.
Người phụ nữ hầu việc ngoài cổng thở ra một luồng hơi nóng, trông chẳng khác nào ấm đồng vừa sôi. Bà ta nhìn ra ngoài, chợt trông thấy nàng, vội kêu lên: “Ôi chao, sao tiểu nương tử lại về rồi!”
Cư Thượng bước nhanh qua ngưỡng cửa, băng qua tiền viện vào nhà ấm. Nàng biết mỗi khi tuyết rơi, nữ quyến trong nhà đều thích tụ tập ở đó sưởi ấm. Quả nhiên vừa lên hành lang, nàng đã thấy Cư U mang lò sưởi tay đi tới. Trông thấy nàng, Cư U vội gọi một tiếng a tỷ, rồi lớn tiếng truyền vào trong: “Trưởng tỷ của con về rồi!”
Người trong nhà nhanh chóng đón nàng vào. Dương phu nhân nói: “Trời đang đổ tuyết, sao con lại chạy về?”
Chẳng phải nàng nhớ chuyện hôn sự của Cư An hay sao! Cư Thượng đỡ mẫu thân ngồi xuống, quay sang nhìn Cư An. Đứa trẻ chẳng câu nệ khuôn phép ấy mãi vẫn mang vẻ ngây thơ chất phác. Nó dùng thanh đồng cời trong chậu than hồi lâu, cời ra một củ từ nướng đen sì, rồi hỏi: “A tỷ có đói bụng không?”
Nói đến chuyện có đói hay không, xưa nay vẫn là đề tài muôn thuở giữa hai tỷ muội. Khẩu vị của Cư Thượng, chưa bao giờ có chuyện no đến mức không ăn nổi nữa. Huống hồ món ăn đơn giản thế này, nàng ăn chẳng phải vì hương vị, mà là vì thú vui dân dã. Thế là nàng lập tức tìm một chiếc hồ sàng ngồi xuống, cố nhịn đầu ngón tay bỏng rát. Dẫu có nóng đến đau răng, nàng cũng phải khó nhọc gặm một miếng.
Nàng đột nhiên trở về khiến câu chuyện tạm thời gián đoạn, nhưng rất nhanh đã tiếp tục chủ đề ban nãy. Cố phu nhân nói: “Chỉ xét gia thế, cũng không tệ.”
Cư Thượng nghiêng đầu hỏi nhị tẩu bên cạnh. Vi thị đáp một tiếng: “Ấy, là con thứ sáu nhà Trung Đô hầu, môn đệ cũng xứng đôi.”
Nhưng Cư An không vui lắm, phồng má nói: “Muội theo a nương đến Trung thư lệnh phủ dự tiệc, đã gặp người ấy rồi. Trông mặt mày gian xảo, chẳng đẹp chút nào.”
Đẹp hay không đẹp, đây là chuyện hệ trọng, có liên quan đến sau này đôi bên có nhìn nhau đến chán ghét hay không.
Dương phu nhân nói: “Cũng có một người đẹp mã, là công tử nhà Vệ úy khanh. Hôm ấy người ta còn đến tận cửa, con thấy thế nào?”
Lưu thị vẫn luôn lặng lẽ nghe chuyện, nghe vậy bèn ngập ngừng nhìn Dương phu nhân: “Theo ý nữ quân thì sao ạ?”
Dương phu nhân tự có cân nhắc, thong thả đáp: “Người thì quả thực tuấn tú, nhưng lại là thứ xuất, lòng ta không mấy vừa ý. Phủ nhà người ta đâu giống nhà ta, không phân đích thứ mà đối đãi như nhau. Ta từng qua lại với phu nhân Vệ úy khanh hồi còn trẻ, nói tóm lại, chẳng phải người dễ chung đụng. Ngọc Quy còn nhỏ, không cần phải dính vào vũng nước đục ấy. Chi bằng giữ con bé ở nhà thêm mấy năm, chẳng lo không gặp được mối lương duyên tốt.”
Lưu thị lúc này mới thở phào nhẹ nhõm, ngượng ngùng nói: “Không dám giấu nữ quân, mối hôn sự này thiếp cũng thấy không ổn. Tuy Tam nương không giống trưởng tỷ và nhị tỷ, nhưng a lang cùng nữ quân thương yêu con bé, hơn nữa ai mà chẳng muốn trèo lên chỗ cao. Chẳng lẽ vì chúng ta là thứ xuất, thì nên gả cho một thứ tử hay sao?”
Dương phu nhân nói: “Thứ tử cũng không phải chuyện gì đáng ngại, nhưng ta đã lặng lẽ sai người dò hỏi, vị tiểu lang quân ấy chẳng có thành tựu gì, hiện giữ chức Giám môn trực trưởng ở Suất phủ. Ta nghĩ, Thù Thắng đã gả cho Thái tử, nếu muội muội lại gả cho một tiểu lại thất phẩm, chẳng phải sẽ khiến người ta chê cười nhà ta chỉ có ba cô nương, mà lại chẳng coi trọng đứa nhỏ nhất này sao?”
Bởi vậy, hôn sự của Cư An so với Cư U càng khó thu xếp hơn. Trên nàng có trưởng tỷ làm Thái tử phi, ngưỡng cửa chọn lang quân ắt phải cao hơn; mà điều khó xử là nàng lại là thứ xuất. Tuy Tân gia xưa nay đối đãi với con cái như nhau, nhưng nhà khác khi bàn chuyện cưới hỏi, ít nhiều vẫn để tâm đến đích thứ.
Cư Thượng hỏi Cư An: “Muội tự mình nghĩ thế nào?”
Cư An vẫn luôn một lòng hướng về tỷ tỷ, nàng nói: “Muội nguyện kết thân vì tỷ tỷ, tìm một lang quân có thể giúp ích cho phu quân của tỷ.”
Mọi người bật cười: “Trung Đô hầu cũng có thể giúp ích cho Thái tử điện hạ, vậy mà muội lại chê công tử nhà người ta mặt mày gian xảo, trông chẳng đẹp.”
Cư An muốn tìm một người vừa có thể giúp ích, lại vừa tuấn tú. Nàng cười ngượng ngùng, nép đến bên Dương phu nhân làm nũng: “A nương, hôn sự của con cứ bàn sau đi. Con còn muốn đợi trưởng tỷ và nhị tỷ xuất giá rồi, được làm con gái độc nhất thêm hai năm nữa.” Nàng nói tự nhiên vô cùng, tính toán nhỏ nhặt trong bụng đánh lách cách.
Dương phu nhân yêu thích tính tình của đứa trẻ này. Tuy không phải do bà sinh ra, nhưng hai tỷ muội từ nhỏ đã được bà chăm sóc dạy dỗ, tính nết của Cư Thượng và Cư An cũng khá giống nhau; khác ở chỗ một người gan to bằng trời, một người nhát như chuột.
Đứa trẻ nhút nhát, đương nhiên phải được yêu thương nhiều hơn. Dương phu nhân liền nói: “Tạm thời chưa cần vội bàn chuyện hôn sự. Cứ để hai nhà ấy sang một bên trước, sau này gặp được người tốt rồi tính.”
Thấy sắp đến giữa trưa, hôm nay mọi người không cần ai nấy về viện dùng bữa, dứt khoát tụ họp ăn cùng nhau. Trưởng bối và các tẩu tẩu bận rộn góp tiền thêm món, Cư Thượng cùng hai muội muội thì dựa bên kỷ, chuyện phiếm.
Cư Thượng hỏi Cư U, rốt cuộc hôn kỳ định vào ngày nào: “Dạo trước mải lo chuyện của ngũ huynh, tỷ vẫn chưa kịp hỏi muội.”
Cư U nói: “Tỷ tỷ là ngày mười hai tháng Hai, muội là ngày hai mươi hai tháng Ba. Ban đầu muội còn thấy gấp quá, nhưng bà mối nói Việt vương bệnh nặng, không thể trì hoãn, chỉ đợi a da trở về gật đầu là phải mau chóng thu xếp.”
Cư An cười híp mắt nói: “Quận vương phu quân hôm nay ra khỏi thành điều binh, trước khi đi còn đến thăm nhị tỷ. Muội trốn sau cửa nhìn trộm, quận vương phu quân nắm tay nhị tỷ, nói: ‘Một khắc không gặp tiểu nương tử, lòng ta đã thấp thỏm bất an.’ Nói vậy, chẳng phải ngày nào huynh ấy cũng thấp thỏm bất an sao? Lâu ngày sẽ mắc bệnh tim mất, thân thể chịu nổi không?”
Cư U thẹn đến mức đánh nàng một cái, khẽ mắng: “Muốn chết à, muội còn nhìn trộm!” Nàng lại kéo Cư Thượng vào cuộc, vạch trần chuyện của nhau: “A tỷ, muội kể tỷ nghe, hôm dự tiệc ở Triệu vương phủ, Ngọc Quy đâu phải chẳng thu hoạch được gì. Có người hỏi muội ấy: ‘Năm nay cô bao nhiêu tuổi? Một đứa trẻ nhỏ thế này, sao lại đến dự yến tiệc như vậy?’ khiến muội ấy tức đến nỗi cơm cũng không ăn nổi.”
Cư An ngẩn người: “Người ta chê cười muội, tỷ còn kể với a tỷ nữa sao?”
Nhắc đến chuyện ấy, nàng tức đến đau gan. Nàng thừa nhận mình trông có vẻ nhỏ tuổi hơn thật, nhưng tháng Tư năm nay nàng đã cập kê rồi. Nữ lang cập kê là có thể bàn chuyện hôn sự, tuy không mong lập tức tìm được lang quân, nhưng trước tiên xem xét, mở mang tầm mắt thì có gì không được?
Nào ngờ lại gặp phải một kẻ kiêu ngạo, cứ thế làm nhục nàng.
Đã mở lời, Cư An bèn kể tường tận cho trưởng tỷ nghe. Nàng bắt chước dáng vẻ người kia đứng thẳng đơ, cụp mắt liếc nhìn, vẻ mặt khinh người, giọng the thé hỏi: “Người lớn trong nhà cô nghĩ thế nào vậy?”
“Người lớn trong nhà muội nghĩ thế nào, cần phải trình bày với hắn sao?” Cư An nói. “Lúc ấy suýt nữa muội tức chết. Người từ Bắc địa đến đúng là vô lễ, man rợ.”
Cư Thượng chưa từng nghe kể chuyện này. Trong một buổi tiệc xem mắt, mỗi người đều gặp những chuyện kỳ lạ riêng, nàng bèn cười hỏi: “Người đó là ai, muội có dò hỏi không?”
Cư An lắc đầu: “Nam nhân đông như vậy, muội chẳng phân biệt nổi ai với ai. Dù sao hắn trông hung dữ lắm, người cao lớn, lại chẳng đẹp. Từ sân đánh mã cầu đi xuống, mặt phủ một lớp bụi mà vẫn vênh váo tự đắc.”
Trên đời này, e rằng chẳng có mấy nam tử khiến Cư An thấy đẹp. Nàng nhát gan, nhưng tuyệt đối không chịu thiệt. Cư Thượng hỏi nàng: “Muội không đáp trả hắn sao?”
Cư An hất cằm: “Muội nguyền rủa hắn, bảo hôm nay chắc chắn chẳng có nữ lang nào thích hắn. Hắn tức giận, muội lại vui.”
“Rồi sau đó thì sao?” Cư Thượng hỏi.
Cư An hơi ngượng nghịu, ấp úng không chịu đáp.
Cư U thấy vậy, bèn thẳng thắn nói ra: “Người kia rất khôi hài, hỏi tiểu nương tử là nữ lang nhà nào. Còn nói nếu không cưới được nương tử, hắn sẽ đích thân đến cửa cầu thân.”
Đáng tiếc thay, mấy tháng trôi qua mà vẫn bặt vô âm tín. Cư An bất bình nói: “Chẳng lẽ người như thế mà lại có nữ lang chịu gả cho hắn sao? Ban đầu muội còn nghĩ, người dự yến tiệc nhà Triệu vương đều là hoàng thân quốc thích, nể thân phận cao quý của người ta, muội cũng có thể miễn cưỡng chấp nhận. Nhưng sao hắn không đến? Chuyện ‘không đánh chẳng quen nhau’ ấy chẳng xảy ra với muội, hóa ra chuyện trong thoại bản đều là giả cả.”
Nàng tỏ vẻ vô cùng tiếc nuối, nhưng đó chính là tâm sự kỳ lạ của thiếu nữ. Cả đời chưa từng giao thiệp với nam tử xa lạ, dẫu chẳng hợp ý, có người đến cầu thân, nàng vẫn bất giác nhớ tới người ta.
Ba tỷ muội không chuyện gì không thể nói với nhau, bèn coi đó là một chuyện lạ để đùa vui, cười vang một trận rồi thôi.
Giữa trưa, Cư Thượng ở lại nhà dùng bữa. Đầu giờ chiều, nàng cùng các tẩu tẩu chơi ném tên vào bình, còn gọi Hòa Vân và Hòa Nguyệt đến.
Nàng để ý thần sắc Hòa Nguyệt. Đứa trẻ tuy còn nhỏ, nhưng đôi khi cũng lộ vẻ buồn bã, chẳng như Hòa Vân lúc nào cũng tươi cười. Ném được mấy mũi tên, con bé đã buồn bã né sang bên. Mọi người khuyên ném thêm, con bé chỉ lắc đầu, không nói gì.
Mọi người đều thấy xót xa. Lý phu nhân đau lòng khôn xiết: “Con bé từ phường Diên Phúc trở về liền hỏi ta, ‘A nương không cần con nữa sao?’ Ta biết trả lời thế nào đây? Đành phải giấu nó, bảo a nương không khỏe, phải ở lại nhà cữu cữu tĩnh dưỡng, đợi thêm mấy hôm nữa sẽ về. Nhưng sau đó, nó không nhắc đến a nương nữa, chẳng khóc cũng chẳng quấy, lời nói cũng ít đi. Ta biết con bé tuy tuổi còn nhỏ, thật ra chuyện gì cũng hiểu… Phải làm sao đây? Nó mới bốn tuổi, tháng ngày về sau còn dài, nếu cứ cô độc lẻ loi như thế này, chẳng phải đứa trẻ sẽ hỏng mất sao?”
Đối với chuyện này, mọi người đều đành bó tay. Đứa trẻ mong tổ mẫu có thể cho a nương trở về, nhưng người lớn cũng có những chuyện bất lực.
Hôm ấy, Vi thị nghe Hòa Nguyệt nói chuyện với huynh trưởng. Đứa bé nhỏ xíu, giọng non nớt: “A huynh và a tỷ đều có a nương, a nương của muội đi rồi, không cần Hòa Nguyệt nữa.”
Con trai Vi thị là Thiếu Bạch cũng mới bảy tuổi, vỗ ngực nhận hết vào mình: “Đợi huynh đệ chúng ta lớn lên, sẽ cướp thím về cho muội, muội cứ yên tâm.”
Vi thị nghe mà lòng chẳng vui. Sau lưng, nàng mắng Ngũ lang một trận, nói hắn là kẻ rụt đầu rụt cổ, làm hỏng chuyện rồi phủi mông bỏ đi. Tân Trọng Hối còn định biện bạch, liền bị Vi thị đuổi vào thư phòng ngủ. Từ đó về sau, hắn chẳng dám nói đỡ cho Ngũ lang nữa.
Tóm lại, đứa trẻ thật đáng thương. Sau này, cảnh ngộ của con bé còn dễ xoay xở, chỉ có nỗi lòng là khó nguôi ngoai. Lý phu nhân vốn định để con bé ở nhà họ Trịnh thêm mấy ngày, nhưng bên kia đã đưa con bé về, thật sự chẳng còn cách nào.
Trước mặt Hòa Nguyệt, không ai nhắc đến chuyện ấy. Các thím cười dỗ dành con bé: “Đợi tuyết rơi thêm một đêm, ngày mai tuyết tích dày hơn, chúng ta đắp người tuyết chơi, được không?”
Lúc này Hòa Nguyệt mới nở một nụ cười. Đợi nhũ mẫu bế con bé về, mọi người mới thở dài thườn thượt.
Sự việc đã đến nước này, có buồn rầu cũng vô ích. Nhìn giờ giấc, Cư Thượng cũng nên trở về hành viên. Trước lúc đi, nàng hẹn các tẩu tẩu và muội muội đêm Thiên Thu tiết ra ngoài dạo chợ Đông. Mọi người vui vẻ nhận lời.
Xe ngựa rời phường Đãi Hiền, đi thẳng về phía đông. Dọc đường, nàng trông thấy rất nhiều nữ lang ăn vận chỉn chu, che ô thong thả bước trên đường lớn. Mùa đông giá rét ở Trường An cũng có nét tinh tế riêng. Ngày tuyết bay đầy trời, người ta chưa hẳn phải rúc trong nhà sưởi ấm; ra ngoài dạo bước, men theo bờ sông ngắm cảnh sắc bờ bên kia, cũng là một việc hết sức thư thái.
Khi trở về hành viên, gia lệnh đã lên tiếng bẩm trước: “Nương tử, Điện hạ đã về rồi. Thần vốn định sai người đến phủ báo tin, nhưng Điện hạ bảo không cần. Nương tử đã mấy hôm không về nhà, nên cứ ở bên người nhà sum họp cho thỏa.”
Nghe xong, Cư Thượng thấy có gì đó khác thường. Nàng cởi áo choàng ném cho Dược Đằng, rồi nhanh chân đi vào viện phía đông.
Vừa bước vào lâu ngủ, nàng đã thấy hắn ngồi bên cửa sổ, chỉ lặng lẽ ngồi đó, không hề bận rộn phê duyệt công văn.
Dường như có gì đó không ổn. Cư Thượng gọi một tiếng: “Lang quân, hôm nay sao chàng về sớm thế?”
Lăng Tố lúc này mới quay đầu lại, gượng cười nói: “Ta đã bồi trang ba chữ ‘chính’ ấy rồi, nàng xem có đẹp không?”
Cư Thượng nhìn theo hướng hắn chỉ. Bức chữ sau khi được bồi trang quả nhiên đã treo ngay ngắn trên tường; bên trên đề lời bạt hẳn hoi, chỗ lạc khoản còn đóng ấn Thái tử.
Đây hẳn là bức thư họa kỳ lạ nhất, về sau có thể truyền từ đời này sang đời khác. Nhưng Cư Thượng cảm thấy còn thiếu điều gì đó. Ngắm hồi lâu, nàng nói: “Sao chỉ có ấn của chàng? Rõ ràng thiếp cũng có phần.” Nói rồi, nàng bảo nữ sử sang viện phía tây lấy đại ấn của mình. “Tà Xuyên cư sĩ”, quả có phong thái của một bậc văn hào.
Nhưng chẳng hiểu vì sao, Lăng Tố không mấy hứng thú. Cư Thượng nói chuyện với hắn, hắn cũng chỉ đáp đôi câu lấy lệ, khiến người ta bất an.
Nàng đứng bên cạnh, nghiêng đầu ngắm hắn rồi nói: “Lang quân đêm qua không về, nhất định đã xảy ra chuyện gì phải không? Rốt cuộc chàng ở Đông cung hay ở viện Thiếu Dương? Viện Thiếu Dương cách điện Tuyên Chính không xa, chẳng lẽ có nương tử hậu cung đi ngang qua đó, bị kẻ có lòng xuyên tạc?”
Trí tưởng tượng của nàng quả thật kinh người. Lăng Tố vốn đang phiền muộn, bị nàng nói một tràng vô căn cứ, nhất thời ngẩn người: “Nương tử chẳng phải rất quen thuộc với Đại Minh cung sao? Sao lại không biết giữa viện Thiếu Dương và điện Tuyên Chính còn cách Thượng thư tỉnh và Thị chế viện? Nương tử hậu cung không đến được viện Thiếu Dương, cũng chẳng ai dám vu cáo ta tư thông với cung nhân. Huống hồ hôm qua ta nghỉ lại Đông cung, đâu có ở viện Thiếu Dương.”
“Vậy chàng cau mày ủ rũ làm gì?” Cư Thượng hỏi. “Chính sự không thuận lợi, bị Bệ hạ trách phạt sao?”
Lăng Tố im lặng, hồi lâu mới thở dài: “Làm quan trong kinh thành khác với ngày trước rong ruổi sa trường. Khi xưa chỉ cần liều mạng, nay lại phải đắn đo lòng người. Công lao chiến trận càng hiển hách, càng trở thành chỗ để người khác nắm thóp. Làm không tốt thì bị quần thần khinh miệt, làm quá tốt lại khiến quân phụ nghi kỵ…” Hắn nhíu mày, vẻ mặt buồn bã, “Thái tử như ta, làm chẳng dễ dàng gì.”
Cư Thượng tỏ ý cảm thông, nhưng cũng an ủi hắn: “Ngày trước, muốn làm Thái tử thật dễ dàng, nhưng Đại Ung mất rồi, Thái tử cũng chẳng còn làm được nữa.”
Hắn nhìn nàng: “Ý nàng là, làm Thái tử giữa thời thịnh thế thì nên nhẫn nhục gánh vác?”
Tân Cư Thượng gật đầu lia lịa: “Chứ còn gì nữa? Chàng tưởng bổng lộc một vạn năm nghìn tiền là dễ lấy lắm sao?”
Đó chính là giác ngộ của người lĩnh bổng lộc: kiếm càng nhiều, áp lực càng lớn.
Lăng Tố ủ rũ không vui: “Tối qua ta tiếp đãi khách khứa, chuyện trò đến tận giờ Tuất mới xong. Khi ấy cửa cung đã đóng, ta muốn về hành viên cũng chẳng ra được. Nàng nhìn mặt ta xem, sắc khí có phải không được tốt chăng? Đêm qua ta ngủ không ngon, hôm nay tan triều lại gặp Thánh thượng, bàn chuyện cống phú, độ chi, quốc dụng và bổng lộc… Hôm nay sao nàng không sai người đến cửa cung hỏi han, xem ta có vất vả hay không?”
Tân Cư Thượng ngẩn người. Hóa ra than thở nửa ngày, là để tính chuyện này?
“Thiếp cũng bận lắm chứ.” Nàng nói, “Hôm qua thiếp học xong lễ thân tằm, buổi tối trằn trọc chẳng ngủ được, chơi trò tàng câu suốt nửa đêm. Hôm nay lại vội vã quay về hỏi chuyện nghị thân của Tam nương. Bên ngoài gió tuyết lớn lắm, ngón chân thiếp còn bị cóng đây này! Lang quân sao không đến phường Đãi Hiền đón thiếp? Chẳng lẽ chàng định hồng nhan chưa già, ân tình đã dứt, phụ bạc hươngchăn gấm mà vội lên triều sớm?”
Đòn phản công này thật khéo, lập tức khiến toan tính của Lăng Tố tan thành mây khói, còn thuận lợi khiến hắn sinh lòng hoài nghi, bắt đầu tự kiểm điểm xem vị hôn phu như mình có phải quá không xứng chức hay chăng.
Bởi thế, chủ ý Hà Gia Yên đưa ra quả nhiên không đáng tin. Yến bày mưu cho Thái tử, bảo rằng dù nam nhân có thể một mình gánh vác bên ngoài, cũng phải biết làm nũng đôi chút. Đó gọi là đứa trẻ biết khóc mới có sữa uống, nữ lang tự khắc sẽ thương xót chàng.
Nghe mà khiến người ta thật ngưỡng mộ…
Lăng Tố quyết định làm theo. Tình cảnh không thuận là sự thật, tuy có thể ứng phó, nhưng cũng chẳng ngại than thở đôi câu. Nào ngờ hắn ấp ủ suốt nửa ngày, lời oán trách của nàng lại còn nhiều hơn hắn, đành phải từ bỏ. Hắn lặng lẽ kéo nàng ngồi xuống, cởi giày nàng ra, ôm chân nàng vào lòng, nghiêm mặt hỏi: “Thế nào? Ấm hơn chút nào chưa?”
Phong Nguyệt Thú