May mà tuyết đầu đông không nặng như tưởng tượng, rơi suốt nửa đêm rồi cũng gần tạnh. Đến sáng hôm sau, vừa mở cửa nhìn ra, chỉ thấy mái nhà cùng lớp cỏ đọng chút tuyết, những bông tuyết lác đác bay giữa trời gần như chẳng đáng kể.
Lý phu nhân thắp đèn thức trắng cả đêm. Đợi đến khi tiếng chuông trống báo chợ mở vang lên, bà liền ra tiền viện chờ đợi.
Đêm dài lắm mộng, cứ chờ thêm nữa, e rằng Ngân Tố sắp xuất giá mất.
Dương phu nhân và Cố phu nhân đến chậm hơn hai bước. Trong các phòng đều có việc phải thu xếp, đợi mọi sự đâu vào đấy, hai người mới đến tiền viện hội hợp với Lý phu nhân.
Đang định ra khỏi cửa, bỗng thấy Cư U và Cư An nắm tay chạy vào, vội vàng nói: “A nương, bọn con cũng muốn đi.”
Đáng tiếc Dương phu nhân và Lý phu nhân đều không đồng ý. Lý phu nhân nói với Cư U: “Độc Cô gia đến xin định kỳ thành hôn, vì a da con không có nhà nên tạm thời chưa thể đáp lời người ta. Đợi a da con trở về, chẳng qua cũng chỉ đi một vòng cho đủ lễ, ngày cưới nhất định không đổi. Con ở nhà ngoan ngoãn đọc sách, làm chút nữ công… Chuyện của huynh muội các con đã khiến ta lo đến bạc lòng, con hãy yên ổn một chút, đừng đi góp vui nữa.”
Cư An trông mong nhìn Dương phu nhân, khẽ giọng nói: “A nương, con thay người cầm lò sưởi tay.”
Dương phu nhân đáp: “Lò sưởi tay cũng để con cầm cả rồi, chẳng lẽ ta phải chịu rét hay sao? Chuyện trong phòng a huynh vốn chẳng đến lượt các con bận lòng. Các con đều là nữ lang chưa xuất giá, gặp chuyện thế này tránh còn không kịp, sao lại cứ nhất quyết sấn tới! Nghe lời, ở nhà, không được đi đâu cả.” Nói rồi bà gọi hai người em dâu ra cửa, đi được mấy bước lại quay đầu dặn: “Không được lên hành doanh khuyên nhủ trưởng tỷ. Dạo này nó bận nhiều việc, phải học bao nhiêu lễ nghi, đừng làm rối trí nó, biết chưa?”
Hai tỷ muội không còn cách nào, đành ậm ừ nhận lời.
Cư An giấu tay trong tay áo, hỏi Cư U: “A tỷ, tỷ nói a tẩu còn trở về không?”
Cư U chậm rãi lắc đầu: “Khó nói lắm. Muội ấy đã nghị thân với người khác, nếu còn trở về, chẳng phải phụ lòng người ta sao?”
“Vậy tỷ có mong a tẩu trở về không?”
Cư U khó xử nói: “Đương nhiên tỷ mong muội ấy trở về. Trở về rồi thì gia đình sẽ được đoàn tụ, Hòa Nguyệt cũng không phải xa cách a nương. Nhưng nghĩ lại, nếu tỷ ở vào cảnh ngộ của a tẩu, hẳn sẽ không trở về. Trở về rồi, trong lòng cũng đã có vết sẹo; cứ ấm ức sống hết một đời như thế, thật quá mỏi mệt.”
Hai tỷ muội cùng thở dài, phóng mắt nhìn theo ba vị phu nhân lên xe ngựa.
Phường Diên Phúc cách phường Đãi Hiền không xa, chừng hai tuần hương là tới nơi. Xe ngựa dừng vững, người hầu đi theo được sai đến cổng thông báo, xin gặp chủ mẫu Trịnh gia và Thất nương tử. Người trong phủ nhận tin, chẳng mấy chốc đã ra đón.
Ngân Tố còn bằng lòng gặp mình, Lý phu nhân rất đỗi an lòng: “Chúng ta đường đột đến thăm, thật thất lễ. Trong nhà xảy ra biến cố như vậy, ta hổ thẹn khôn nguôi. Không ngờ quý phủ chẳng trách móc, quả thật phong thái thế gia.”
Hoàng phu nhân tuy oán trách Tân Ngũ lang, nhưng Ngân Tố bao năm qua ở Tân phủ được mẹ chồng hết mực chăm sóc; chuyện của một người, một người gánh vác, không nên liên lụy đến bậc trưởng bối.
Bà bèn nói: “Phu nhân quá lời rồi. Tiểu bối nảy sinh hiềm khích, nào có lẽ gì lại trách cứ trưởng bối. Trịnh gia chúng ta chẳng phải nhà cửa ngang ngược, ba vị phu nhân quang lâm, chúng ta đương nhiên phải tiếp đãi theo lễ.” Nói rồi bà đưa tay mời vào trong: “Mời các phu nhân. Trời rét đất lạnh, xin mời vào hương các ngồi, nơi ấy ấm áp hơn.”
Lý phu nhân cùng hai người em dâu miệng đáp lời, trong lòng không khỏi kín đáo quan sát Trịnh Ngân Tố. Thấy nàng nét mặt bình hòa, vẻ điềm tĩnh đã lâu không gặp, lòng Lý phu nhân chùng xuống, biết chuyện này e rằng khó thành.
Mọi người chuyển vào hương các, tỳ nữ dâng thức uống nóng cùng điểm tâm. Trong sảnh nhất thời yên tĩnh, chỉ nghe tiếng than nổ lách tách. Ý đồ chuyến này của họ quả thực khó mở lời.
Cuối cùng vẫn là Dương phu nhân lên tiếng trước, nói với Ngân Tố: “Hòa Nguyệt được ở bên a nương thì vui rồi chứ? Hôm ấy sau khi con đi, đứa bé khóc mãi không thôi, ai dỗ cũng chẳng được, khiến cả nhà chúng ta sốt ruột.”
Trịnh Ngân Tố cúi đầu đáp: “Chuyện của chúng con lại khiến cả nhà phải lao tâm, con thật có lỗi với các bậc trưởng bối. Hai ngày nay Hòa Nguyệt rất ngoan, cũng không lạ giường. Con nói với con bé vài điều phải trái, dường như nó đã nghe lọt tai.”
Lý phu nhân lại chẳng mấy lạc quan: “Trẻ con nói nghe lọt tai, kỳ thực chẳng có tác dụng đâu. Đến lúc chia lìa, lại khóc đến xé ruột xé gan cho xem.”
Trên đời này sao có người mẹ nào không thương con? Hòa Nguyệt do một tay Ngân Tố nuôi lớn, nàng dồn vào con bé quá nhiều yêu thương, con chính là điểm yếu của nàng. Không phải họ muốn vin vào điểm yếu ấy để níu kéo, thật sự là đã hết cách rồi. Ngũ lang khiến người ta phiền lòng đến thế, có gì đáng lưu luyến? Thứ duy nhất có thể giữ nàng lại, chỉ có đứa trẻ.
Vốn tưởng nàng sẽ động lòng, ít nhất cũng phải đắn đo một lúc, nào ngờ lại không hề.
Trịnh Ngân Tố nói: “Ban đầu chưa quen thôi, qua một thời gian sẽ ổn. Trong nhà còn có a tỷ bầu bạn với con bé, các bậc trưởng bối lại thương yêu nó, Hòa Nguyệt sẽ chẳng phải chịu ấm ức đâu.”
Lời ấy vừa thốt ra, lòng Lý phu nhân cùng hai người em dâu đã nguội đi một nửa. Nếu đến con cái cũng không thể lay chuyển ý nàng, vậy thì thật sự không còn cách nào cứu vãn.
Nói vòng nói vo cũng chỉ uổng phí thời gian. Thấy sự việc đã đến nước này, Lý phu nhân dứt khoát thẳng thắn, nghiêng mình về phía trước rồi nói: “Ngân Tố, con ngoan, a nương biết trong lòng con không vui. Ngũ lang đáng đánh đáng giết, đợi a da con trở về sẽ xử trí nó. Nay nó cũng đã chịu bài học, hôm qua từ đây trở về, về đến nhà đôi mắt cứ đờ đẫn, ngã xuống giường chẳng nói một lời, nhìn mà lòng ta chẳng dễ chịu gì. Hai con làm phu thê bao năm, trước kia ít nhiều cũng có chút tình nghĩa. Nó nhất thời lầm đường, chúng ta kéo nó trở lại. Chỉ cần nó biết quay đầu, con hãy tha thứ cho nó lần này đi.”
Lý phu nhân nói đầy xót xa, trong lòng lại nóng ruột, khóe mắt ngấn lệ.
Hoàng phu nhân thấy bà như vậy, không khỏi cũng có chút đau lòng. Tân Ngũ lang không phải do bà sinh ra, đích mẫu có thể làm đến mức này, khắp thiên hạ cũng hiếm có.
“Phu nhân đừng sốt ruột, có lời gì cứ từ từ nói.” Hoàng phu nhân đẩy chén trà về phía trước thêm chút nữa, “Trước hết uống chén nước nóng, làm ấm người đã.”
Thật ra, lúc người gác cổng bẩm báo có người Tân gia đến, hai chị em dâu đã ngầm hiểu ý nhau. Ngân Tố vẫn giữ nguyên chủ ý ấy: đã thoát thân thì tuyệt đối không quay đầu. Nàng không tiện thẳng thừng từ chối mẹ chồng cũ, đành nhờ tẩu tẩu giúp mình nói đôi lời.
Hoàng phu nhân đã nắm rõ trong lòng, mọi việc liền dễ thu xếp. Phu nhân vừa mở lời, bà đã vội đỡ lời một phen. Nếu có thể mập mờ cho qua thì đương nhiên là tốt nhất, không cần làm tổn thương thể diện đôi bên.
Nhưng Lý phu nhân nào chịu cam lòng. Hôm nay bà chỉ mong con dâu hồi tâm chuyển ý, chẳng muốn uống trà của Hoàng phu nhân, chỉ chăm chăm nhìn Trịnh Ngân Tố, chờ nàng nói một lời chắc chắn.
Thấy không thể khước từ thêm nữa, Trịnh Ngân Tố đành tự mình lên tiếng. Nàng chỉnh lại dáng ngồi, nói: “Hôm nay các vị trưởng bối có ý gì, trong lòng ta đều hiểu. Nhưng duyên phận giữa ta và Ngũ lang đã hết, xin đừng cưỡng cầu nữa. Trước kia ta mắc kẹt trong cuộc hôn nhân ấy, ngày ngày sống chẳng khác nào chìm trong đêm tối. Nay vất vả lắm mới được giải thoát, mong các vị trưởng bối thương xót ta, đừng miễn cưỡng ta.”
Tấm lòng Lý phu nhân như đổ xuống đất, ánh sáng trong mắt cũng dần tắt. Bà thê lương nói: “Ta cũng hiểu, quả là ta đang làm khó người khác.”
Dương phu nhân và Cố phu nhân trao đổi ánh mắt. Tuy cùng đi đến đây, họ không thể làm thuyết khách, chỉ đành cùng thở dài mà thôi.
Thấy vậy, Hoàng phu nhân vẫn lên tiếng an ủi Lý phu nhân: “Thôi vậy, người trẻ tuổi tự có tính toán của mình, phu nhân đừng bận lòng nữa.”
Có điều, cô em chồng vốn đang yên lành bỗng hòa ly trở về, trong lòng vợ chồng Trịnh Sâm vẫn không khỏi oán trách. Gia chủ Tân gia đã riêng đến gặp Trịnh Sâm, hết lời tạ lỗi, nhưng có ích gì đâu? Nỗi tức nghẹn ấy vẫn không sao trút ra được.
Nhân hôm nay các phu nhân Tân gia đến thăm, Hoàng phu nhân không muốn giữ mãi lời trong lòng, bèn lựa đúng thời cơ, thong thả cất lời: “Thất nương không chịu trở về, chẳng phải vì bất hòa với các vị trưởng bối trong phủ, hay với huynh đệ tỷ muội, mà chỉ vì vợ chồng không thể chung sống hòa thuận. Theo ý ta, vốn nên hỏi cho ra lẽ Ngũ lang, rốt cuộc Thất nương đã làm điều gì không phải, khiến hắn nảy lòng khác. Nhưng nghĩ lại, lòng đã chẳng thể quay về, trách hỏi cũng vô ích. Mấy hôm trước, một vị tộc huynh đến thăm, nghe được chuyện này, vốn định dâng sớ đàn hặc Ngũ lang thất đức, may nhờ lang quân nhà ta khuyên ngăn. Dẫu sao hai nhà chúng ta cũng là thế giao, dù không kết được thân gia thì cũng chẳng cần thành kẻ thù. Huống hồ thể diện Tân gia còn liên quan đến đại nương tử trong phủ và Thái tử điện hạ. Một Ngũ lang chẳng đáng nhắc đến, nhưng vì đánh chuột mà làm vỡ bình ngọc thì thật chẳng bõ, phu nhân nói có phải không?”
Lời ấy ngụ ý sâu xa, chừng mực nặng nhẹ đều rất khéo. Trước tiên bà gạt mình ra khỏi chuyện, rồi lại vừa đúng lúc khiến người Tân gia phải dè chừng: trước khi Thái tử đăng cơ, nhà mẹ đẻ của Thái tử phi càng phải hành sự cẩn trọng.
Dương phu nhân nghe mà lòng lạnh đi, biết vị phu nhân Thượng thư này chẳng phải hạng đàn bà chốn hậu trạch bất tài, lời lẽ sắc bén vô cùng.
Mối họa ngầm sau cuộc hòa ly của Ngũ lang, hôm ấy Tân Đạo Chiêu đã nói với bà. Triều đình ngoài mặt phẳng lặng, bên dưới sóng ngầm cuộn trào; thế lực đối địch với Thái tử đang rục rịch. Trên người Thái tử không có điều gì đáng chê trách, nếu sai lầm xuất phát từ Tân gia, vậy thì tội đáng muôn chết.
Bởi thế, sau khi đôi vợ chồng trẻ hòa ly, một mặt Tân Đạo Chiêu cảm thấy có lỗi với Trịnh gia, mặt khác lại hận Ngũ lang chẳng nên thân. Để người ta nắm được một nhược điểm lớn đến thế, Tân gia chẳng qua chỉ tổn hại thể diện; nhưng một khi chuyện đến trước mặt Thánh thượng, nó sẽ thành gia phong bất chính, còn chẳng biết gây ra bao nhiêu sóng gió. Vì vậy, ngay khi chuyện xảy ra, cả Tân gia lẫn Đông cung đều âm thầm ra sức. Biết được bản tấu nặc danh đã đến Thượng thư tỉnh, ông dứt khoát đi trước một bước, thỉnh tội với Thánh thượng. Thánh thượng rất không vui, nhưng vẫn hạ ý chỉ đè chuyện xuống, nhờ vậy việc này mới không bị đưa ra triều bàn luận.
Nay Hoàng phu nhân nói như vậy, rõ ràng là định bỏ qua cho Tân gia một lần. Dẫu sao Trịnh gia mới là người chịu thiệt; nếu Trịnh gia đàn hặc giữa bá quan văn võ, hiệu quả còn nhanh gọn hơn nhiều so với dâng tấu vòng vo.
Trong lòng Lý phu nhân cũng thắt lại, càng thêm hổ thẹn. Bà nói với Hoàng phu nhân: “Nghiệt tử Ngũ lang không biết suy nghĩ, đa tạ đại ân② của phu nhân bao dung. Những lợi hại trong chuyện này, sao ta có thể không hiểu? Chỉ tiếc phụ thân nó không có mặt ở Trường An, ta cũng không thể tự quyết định sẽ xử trí nó thế nào. Đợi phụ thân nó trở về, nhất định sẽ cho quý phủ một lời giải thích.”
Nhưng Trịnh Ngân Tố lại nói không cần: “Dẫu sao cũng là phu thê nhiều năm, chi bằng hợp tan trong êm thấm. Hôn sự của hai vị muội muội và Cửu lang đã ở ngay trước mắt, đừng vì chúng ta mà khiến lòng người hoang mang. Giờ ta đã không còn oán hắn nữa, thật đấy. Ta còn phải cảm tạ hắn đã cho ta Hòa Nguyệt đáng yêu như vậy. Dẫu không nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng ngày trước, ta vẫn phải nghĩ đến Hòa Nguyệt. Nếu hắn thân bại danh liệt, Hòa Nguyệt sẽ chịu thiệt thòi rất lớn, sau này việc hôn nhân cũng bị cản trở. Ta không thể vì nhất thời hả dạ mà hủy hoại cả đời con trẻ.”
Nàng nghĩ xa trông rộng, người Tân gia lại càng hiểu rõ ẩn ý trong lời ấy. Đến oán hận cũng không còn, những chuyện khác chẳng cần bàn thêm nữa.
Chỉ có thể nói, nàng quyết tuyệt đến thế, vừa ngoài dự liệu, lại vừa hợp lẽ thường. Thuở trước, nàng cũng từng là đứa trẻ ngây thơ, thẳng thắn như ba chị em Thù Thắng. Nào ngờ trải qua một cuộc hôn nhân tan vỡ, nàng trở ra với thân tâm đầy thương tích; thật đáng thương biết bao.
Lý phu nhân đã nguội lòng, buồn bã gật đầu.
Dương phu nhân thấy chuyện đã thành định cục, bèn thả lỏng, nói với Trịnh Ngân Tố: “Hòa Nguyệt ở nhà, con cứ yên tâm. Sau này nếu nhớ con bé, con có thể đến thăm, hoặc đón con bé qua ở cùng cũng được. Tân lang là Thiếu khanh Thái Thường Tự phải không? Quan kinh thành không phải rời kinh nhậm chức, muốn gặp lúc nào cũng được.”
Nghe vậy, Trịnh Ngân Tố thoáng sững người, rất nhanh đã đỏ mặt. Dẫu cơn giận đã nguôi, nhưng chuyện hôn sự được thu xếp nhanh đến thế, khó tránh khiến nàng có phần áy náy.
Mọi chuyện đã không còn cách nào vãn hồi, người Tân gia đành thôi, lần lượt đứng dậy cáo từ.
Trước khi đi, Lý phu nhân nói với Trịnh Ngân Tố: “Mẹ chồng nàng dâu bao năm, chúng ta chưa từng đỏ mặt với nhau. Ngũ lang phụ bạc con, ngay cả ta cũng cảm thấy có lỗi với con. Sau này, nếu con muốn, cứ đến thăm nom; ta sẽ đối đãi với con như với Nguyệt Nô.”
Lúc này mắt Trịnh Ngân Tố mới đỏ hoe. Nàng nghẹn ngào nói: “Mẫu thân, là con không có phúc phận, khiến người thất vọng rồi.”
Lý phu nhân vỗ nhẹ lên tay nàng, xoay người bước lên xe.
Xe ngựa chậm rãi lăn bánh. Ngoảnh đầu nhìn lại, bà vẫn thấy nàng đứng trước cổng, tiễn mình đi. Cho đến khi xe rẽ qua khúc quanh, đoạn duyên phận mẹ chồng nàng dâu này cũng hoàn toàn chấm dứt.
Ba người chị em dâu đều ủ rũ, hồi lâu chẳng ai lên tiếng. Không nỡ là thật, bao năm qua ngày nào cũng gặp mặt, đột nhiên người ấy không còn ở đây, sang nhà người ta quán xuyến gia nghiệp, nghĩ kỹ lại, lòng liền đau xót khôn nguôi.
Cố phu nhân buồn bã tựa vào thành xe, nói: “Đã có đường lui, nàng chẳng còn thiết tha bước chân vào cửa Tân gia nữa… Các muội nói xem, nàng một lòng muốn hòa ly, có phải trong lòng đã sớm có tính toán rồi không?”
Nếu gặp phải bà bà cay nghiệt, chỉ bằng chuyện này thôi cũng đủ đổi trắng thay đen. Nhưng Tân gia rốt cuộc không phải nhà tầm thường nơi phố thị, Lý phu nhân vẫn công bằng, cúi đầu nói: “Xưa nay nàng ấy luôn an phận thủ thường, ta đều nhìn thấy cả. Chuyện này là chúng ta có lỗi với người ta, tuyệt đối đừng nghĩ theo hướng ấy.”
Còn Ngũ lang, hôm qua liên tiếp chịu đả kích, hôm nay xin nghỉ. Biết được mẫu thân vừa sáng đã sang nhà họ Trịnh, chàng thấp thỏm không yên, chờ ngay trước cổng.
Xe ngựa vừa dừng, chàng đã vội vã bước lên hỏi: “A nương, người gặp Ngân Tố chưa? Nàng ấy nói thế nào?”
Lý phu nhân nhìn chàng, tiếc nuối lắc đầu: “Sau này ai sống yên ổn cuộc đời nấy đi, đừng đến quấy rầy người ta nữa.”
Chàng nghe xong, ngây dại, rồi gần như phát điên, lẩm bẩm: “Sao có thể chứ? Nàng ấy sẽ tha thứ cho con, chúng con còn có Hòa Nguyệt…”
Cố phu nhân chán ghét nhìn chàng như vậy, cao giọng nói: “Hòa Nguyệt không giữ chân được nàng ấy. Nàng ấy có cuộc đời của riêng mình, lẽ nào sinh ra đã phải ở nhà ngươi chăm con cho ngươi sao!” Bao ngày bất mãn tích tụ, giờ càng khiến bà giận chàng chẳng nên thân, cũng chẳng buồn để ý đến chàng nữa, lách người đi qua, vừa đi vừa mắng: “Buông chẳng đành mà giữ cũng chẳng được, Tân gia chúng ta sao lại sinh ra đứa con cháu thế này, thật mất hết thể diện gia môn!”
Lý phu nhân cũng lặng lẽ đi vào, chỉ có Dương phu nhân dặn chàng: “Ăn một lần thiệt, khôn thêm một phần đi. Nhân duyên tốt đẹp khó cầu, đã tự tay đánh vỡ rồi thì đừng hối hận nữa.”
Vậy là chút hy vọng cuối cùng cũng mất, Ngân Tố sẽ chẳng bao giờ trở về nữa.
Con người vốn là như vậy, ban đầu cảm thấy thứ gì đó có cũng được, không có cũng chẳng sao, chẳng xem trọng nó. Đến khi phát hiện có người muốn cướp đi, lập tức lại xem nó như báu vật, quyết không thể để rơi vào tay kẻ khác. Thế là dây dưa không dứt, thể diện mất sạch, khiến bản thân sống chẳng ra người, chết chẳng ra ma.
Mấy ngày sau, Lăng Tố gặp chàng ở Lan Đài. Chàng gầy đi trông thấy, thoạt nhìn gần như khiến người ta không nhận ra.
Dù sao Thái tử cũng biết đầu đuôi mọi chuyện, Tân Trọng Ân trước mặt hắn chẳng hề giấu giếm. Nhưng người qua lại trong nha môn đông đúc, trước sau vẫn không tiện trò chuyện sâu. Đợi hết giờ làm, hai người tìm một quán trà ven đường ngồi xuống, Tân Trọng Ân mới vừa sụt sùi vừa kể ra những nỗi niềm trong lòng mấy ngày qua.
Lăng Tố cũng không ngờ Trịnh thị nhanh chóng bàn chuyện tái giá đến vậy, càng cảm thấy Tân Ngũ lang có mắt như mù.
Tân Ngũ lang hối hận khôn nguôi, đau buồn tột độ, nói dông dài rất nhiều. Nhưng đã là người có lỗi, thì lấy tư cách gì mà hoài niệm chuyện xưa?
Nể mặt chàng là huynh trưởng của Cư Thượng, Lăng Tố kiên nhẫn nghe chàng trút bầu tâm sự. Đợi chàng uống gần no nước trà, cuối cùng hắn không nghe nổi nữa, bèn đề nghị: “Ngươi đã từng nghĩ đến chuyện ra ngoài Trường An xem thử chưa?”
Tân Trọng Ân ngẩng mắt, nước mắt vẫn còn đọng trên mặt: “Ngoài Trường An?”
Lăng Tố đáp: “Phải. Sa Châu đang xây dựng hang động, có rất nhiều văn hiến và cổ tịch cần chỉnh lý. Nếu ngươi bằng lòng đi, ta sẽ tiến cử ngươi với Tiết độ sứ Sa Châu, để ông ta chiếu cố ngươi.”
Nghe xong, Tân Trọng Ân có chút động lòng: “Ta vẫn luôn rất hứng thú với bích họa trong hang động, nhưng khổ nỗi Sa Châu cách Trường An quá xa, không có dịp đến một chuyến.”
Lăng Tố nói: “Cơ hội chẳng phải đã đến rồi sao? Rời Trường An một thời gian, ra ngoài giải khuây, được thấy trời đất bao la, tự khắc sẽ không còn bị vướng bận bởi tình nhi nữ nữa.”
Đúng vậy, tình cảm quá đỗi dạt dào, cả đời người cũng chỉ quanh quẩn ở nơi ấy. Tân Trọng Ân nhớ đến cuộc hôn nhân không thể cứu vãn của mình, giờ đây đã chẳng còn gì không thể buông bỏ. Nghe Thái tử nói vậy, chàng lập tức phấn chấn trở lại.
Chàng khẽ thở ra, đáp: “Được. Ta cũng chán ở Trường An rồi, vừa hay ra ngoài đi đây đi đó.”
Trên mặt Lăng Tố thoáng hiện ý cười, hạ giọng nói: “Sa Châu giáp với Qua Châu. Nếu ngươi đến đó, vừa hay có thể giúp ta một chút. Có điều lần này xuất hành, đi đâu chớ nói với bất kỳ ai, chỉ cần bảo là đi du ngoạn thiên hạ. Ta sẽ phái người âm thầm bảo vệ ngươi, hộ tống ngươi bình an đến Sa Châu.”
Tân Trọng Ân gật đầu, ghé tai nghe hắn căn dặn. Bản thân đã thành ra thế này, cũng chẳng cần tiếc mạng nữa; liều mình tạo nên chút giá trị, có lẽ sẽ tìm lại được ý nghĩa của việc sống.
Hai người quyết định như vậy, lấy trà thay rượu nâng chén. Lăng Tố nói: “Chuyện đã qua rồi, đừng ngoái đầu nhìn lại nữa. Trên thư hòa ly của ngươi chẳng phải viết rằng mong nàng ấy được gả cho bậc cao quan sao? Nàng ấy đã làm được rồi, ngươi nên mừng cho nàng ấy mới phải.”
Lời này chẳng khác nào chọc đúng nỗi đau, Tân Trọng Ân muốn khóc mà không có nước mắt: “Rốt cuộc ngươi có biết nói chuyện không vậy?”
Lăng Tố hơi ngơ ngác: “Ta nói sai rồi sao?”
Nào ngờ Tân Trọng Ân “rầm” một tiếng đặt chén trà xuống, đáy chén suýt khoét thủng mặt bàn. Chàng đứng phắt dậy, chắp tay nói: “Cáo từ!” rồi phất tay áo bỏ đi, dáng vẻ hệt như không muốn cùng mưu sự với hắn.
Quả nhiên, rút mình khỏi tình trường, ngược lại có thể cùng nhau mưu tính đại nghiệp.
Lăng Tố nhìn chàng đi xa, trà bác và chủ quán cũng ngẩn người dõi theo. Hắn mỉm cười: “Tính khí cũng lớn thật.” Đặt tiền trà xuống, hắn chắp tay sau lưng, thong thả bước ra ngoài.
Ngẩng đầu nhìn lên, mấy ngày nay trời vẫn âm u mờ mịt, chưa đến lúc mặt trời lặn mà ánh sáng đã tối tăm, tựa hồ đêm sắp buông.
Trời tối rồi, nên về nhà thôi. Mấy ngày nay, ty Lễ bộ bị Trường sử níu chân, việc tiến hành chậm trễ, đến hôm nay vẫn chưa dạy lễ thân tằm. Cư Thượng lại có thêm lý do để tiếp tục ở lại hành viên.
Gần đây Lăng Tố có một thói quen, về đến nhà là ghé viện phía tây trước. Có đôi khi hắn cảm thấy đề nghị của Trường sử thật ra rất hay. Bức tường thấp kia đúng là càng che càng lộ, người đã vào hành viên rồi, còn bận tâm danh tiếng với chẳng danh tiếng làm gì nữa?
Trước khi thành hôn đã tư tình với Thái tử, hình như cũng chẳng mất mặt đến thế!
Có điều nghĩ thì nghĩ vậy, hành động vẫn chần chừ chưa tiến. Chữ “chính” trong ngăn kéo án thư của hắn đã viết được một chữ rưỡi. Cứ cố thêm chút nữa, đợi đủ mười lăm ngày, đến lúc ấy ắt sẽ là một cảnh tượng mới.
Bước chân nhẹ nhàng, mang theo tin mới lên hành lang, vào cửa đã trông thấy Cư Thượng cuộn mình trên giường, trước giường đặt hai lò than. Nàng quấn chiếc chăn nhỏ, ngồi ở đó. Thấy hắn, nàng yếu ớt gọi một tiếng: “Lang quân, chàng về rồi à?”
Lăng Tố thấy sắc mặt nàng trắng bệch, tim lập tức thót lên: “Sao vậy? Nàng bị bệnh à?”
Cư Thượng nói không sao: “Chỉ hơi khó chịu một chút.”
Một nữ lang vốn khỏe mạnh cường tráng, ngày thường nhảy nhót lanh lợi, bỗng dưng lại nói “hơi khó chịu một chút”, quả thật khiến người ta hết sức lo lắng.
Lăng Tố quay người gọi Trường sử: “Mau đến Tàng Dược cục, mời người tới bắt mạch cho nương tử.”
Trường sử vừa định đáp lời, Cư Thượng đã gọi lại, nàng xua tay nói không cần: “Bệnh vặt thôi, không cần làm phiền thị y.”
Lăng Tố lại tận tình chu đáo, như lâm đại địch, phô bày trọn vẹn dáng vẻ của một vị hôn phu. Hắn cau mày nói: “Ta đã bảo nàng học y rồi mà, nàng xem, bản thân bị bệnh cũng chẳng hay, lại còn kiêng kỵ việc chữa bệnh như vậy.”
Cư Thượng thầm nghĩ, chàng đúng là kẻ ngốc chưa từng trải đời, đã ngốc còn lắm lời, thật khiến người ta tức giận.
Nhưng chuyện thực tình ấy, nàng biết mở miệng thế nào cho phải? Ngay cả những người túc trí đa mưu bên cạnh nàng cũng thấy khó mà nói ra. Cư Thượng đành tiếp tục mập mờ đáp: “Ta có bệnh hay không, đương nhiên tự ta biết. Tóm lại không cần gặp thị y là được.”
Chẳng lẽ nàng sợ châm kim? Hay sợ thuốc thang đắng ngắt?
Lăng Tố nói: “Tàng Dược cục có sẵn thuốc viên, chỗ nào không khỏe thì uống một viên là được.” Ý định truyền thị y của hắn vẫn kiên định như sắt, hắn trầm giọng dặn Trường sử: “Mau mời người đến, bắt mạch cho tiểu nương tử.”
Trường sử lĩnh mệnh, chữ “vâng” còn chưa kịp thốt ra, Cư Thượng đã kêu lên: “Đã nói là không cần rồi, sao chàng không tin chứ! Ta không sao, ủ ấm một lát là khỏe thôi.”
Hắn nghe vậy thì tức giận: “Bắt mạch đâu tốn bao nhiêu công phu, Tàng Dược cục được lập nên chính là vì nàng và ta. Nàng không khám bệnh, bọn họ nhàn rỗi cũng là nhàn rỗi.”
Vấn đề là căn bệnh này vốn chẳng cần khám. Cư Thượng đã quá quen thuộc, đau cũng không phải lần đầu; cứ hễ trời lạnh, không thấy ánh mặt trời là nàng lại như vậy, uống thuốc cũng vô ích.
Bụng dưới vẫn âm ỉ đau. Đối diện với một nam nhân chẳng hiểu sự đời như thế, nàng chỉ cảm thấy lòng dạ kiệt quệ. Nàng đưa tay day trán, gắng gượng ứng phó: “Chàng để ta ủ ấm một lát, nửa canh giờ nữa sẽ khỏi.”
Trí tưởng tượng nghèo nàn của nam nhân chẳng thể nào hiểu nổi chứng bệnh sâu xa ấy. Hắn nói: “Bệnh gì mà chỉ đau nửa canh giờ? Ta không tin.”
Lần này, Cư Thượng hoàn toàn nổi giận. Nàng tức tối hét lên: “Ta đến kỳ nguyệt sự rồi, đến kỳ nguyệt sự rồi! Đồ ngốc!”
Lời tác giả:
① Đại Thiên: Biệt xưng của Thượng thư Bộ Lại thời Đường.
Phong Nguyệt Thú