Phong Nguyệt Thú

Chương 60: Ngựa hay không ăn cỏ cũ

“Cái gì?” Chàng tưởng mình nghe nhầm, “Bàn chuyện hôn sự gì cơ… Ai bàn chuyện hôn sự?”

Phó mẫu nói: “Lang quân, lão thân cũng chẳng ngại nói thật với ngài. Nương tử nhà chúng ta đã bàn chuyện hôn sự, qua hai ngày nữa sẽ làm lễ nạp thái. Tân lang trước nay chưa từng thành thân, trong nhà rất coi trọng, mọi nghi thức đều chiếu theo lệ cưới chính thất, tam thư lục lễ chẳng thiếu một điều, đôi bên đã định đoạt cả rồi. Vậy nên từ nay về sau, lang quân chớ đến nữa. Một là nương tử ở nhờ phủ huynh tẩu, quả thực bất tiện; hai là miệng đời đáng sợ, nếu để người ta nói nàng còn dây dưa không dứt với lang quân cũ, e sẽ làm tân lang đau lòng, hỏng mất mối hôn sự này.”

Tân Trọng Ân cuống lên: “Mới có mấy ngày, sao lại xảy ra chuyện này? Nàng bàn chuyện hôn sự với ai?”

Phó mẫu lạnh mặt, nghiêm nghị đáp: “Lão thân tính giúp lang quân rồi, hôm nay là ngày thứ năm. Thời gian hòa ly tuy chưa lâu, nhưng chẳng hề cản trở nương tử nhà chúng ta đính thân. Dù sao ngày chính thức nghênh thân còn lâu mới tới, cứ định hôn sự trước, có nơi có chốn rồi thì người ta cũng an lòng. Cứ ở nhờ phủ huynh tẩu mãi thì không phải lẽ. Nương tử nhà chúng ta là người coi trọng thể diện, không chỉ phải có lời ăn tiếng nói với phụ mẫu, huynh tẩu, mà còn phải có lời giải thích với chính mình.”

Nghe tin này, Tân Trọng Ân cảm thấy trời đất như sụp xuống. Chàng không ngờ nàng nhanh như vậy đã tìm được người khác, quả thực khiến người ta hoài nghi cuộc hòa ly này chính là điều nàng mong muốn.

“Sao có thể… Không đâu…” Chàng lẩm bẩm, “Ta và nàng vừa mới hòa ly, mới năm ngày ngắn ngủi, sao lại nhanh đến thế…”

Thần sắc Phó mẫu dần lộ vẻ mất kiên nhẫn, bà khoanh tay nói: “Nương tử nhà chúng ta xuất thân danh môn, khi còn ở khuê phòng đã là quý nữ lừng danh Trà Dương. Sau khi gả cho lang quân, nàng một mực ở nhà chăm chồng dạy con. Trong mắt lang quân, nàng nhạt nhẽo vô vị, nhưng lang quân đâu biết trong mắt người khác, nàng quý giá tựa châu báu. Nay hay tin nương tử hòa ly, tân lang lập tức bẩm với phụ mẫu, nhờ bà mai đến cửa cầu hôn. Ban đầu nương tử không đồng ý, sợ bị người ta dị nghị; sau chẳng chống nổi lời thuyết phục của bà mối, lại nghĩ đến chuyện thân càng thêm thân, nên mới đáp thuận.”

Tân Trọng Ân nghe càng thêm mờ mịt: “Thân càng thêm thân? Rốt cuộc người đó là ai?”

Phó mẫu vốn định nói cho chàng biết, bèn thản nhiên đáp: “Đường Nghĩa Tiết, Đường thiếu khanh ở Thái Thường Tự, hẳn lang quân có quen biết. Ngài ấy là biểu huynh muội với nương tử nhà chúng ta, từ nhỏ cũng xem như thanh mai trúc mã. Nghe nói chần chừ mãi đến ba mươi tuổi vẫn chưa thành thân, là vì nương tử nhà chúng ta. Lang quân cứ yên lòng, về sau nương tử có lang quân như vậy chăm sóc, sẽ chẳng chịu thiệt thòi đâu. Nương tử cũng bảo lão thân nhắn với lang quân rằng chuyện cũ xin đừng bận lòng nữa, mong lang quân bảo trọng, cùng Hồ tứ nương tử trăm năm hòa hợp.”

Lòng Tân Trọng Ân rối như tơ vò. Trước kia, chàng biết rất khó vãn hồi, nhưng trong lòng vẫn ôm chút hy vọng, cho rằng Ngân Tố còn tình cảm với mình. Chỉ cần chàng thành tâm hối lỗi, nàng nể tình Hòa Nguyệt, rốt cuộc sẽ tha thứ cho chàng. Nào ngờ chàng vội vã chạy đến, đón chờ lại là tin tức như vậy.

Chàng ngẩn người, bỗng thấy toàn thân rã rời, lòng hoảng loạn hỏi: “Hòa Nguyệt… vậy Hòa Nguyệt thì sao? Nàng không cần Hòa Nguyệt nữa ư?”

Phó mẫu không khỏi cau mày: “Sao giờ lang quân mới nhớ tới tiểu nương tử? Lang quân đã hòa ly với nương tử nhà chúng ta, bất kể nương tử có tái giá hay không, tiểu nương tử Hòa Nguyệt ắt sẽ phải chịu cảnh côi cút. Tình cảnh này, chẳng phải lang quân đã biết trước rồi sao? Có điều, tiểu nương tử tuy không thể theo a nương về nhà ngoại, nhưng phủ họ Tân là thế gia đại tộc, ba vị phu nhân trong phủ lại vô cùng hòa nhã, đương nhiên sẽ đối xử tốt với tiểu nương tử. Chuyện này nương tử nhà chúng ta rất yên lòng.” Nói một hồi, bà cũng chẳng còn kiên nhẫn, kéo dài giọng: “Lang quân mau về đi, mắt thấy trời sắp đổi gió, bên ngoài lạnh lắm! Trong phường người qua kẻ lại, để người ta trông thấy cũng chẳng hay. Quyết định do lang quân tự mình đưa ra, tự mình phải gánh lấy, đâu phải trẻ con chơi trò gia gia, hôm nay nói chắc như đinh đóng cột, mai lại đổi ý… Lang quân dầu gì cũng là mệnh quan triều đình!”

Nói xong, Phó mẫu không nấn ná thêm, xoay người trở vào trong. Để lại Tân Trọng Ân đứng trước bậc thềm, từng tấc khí lạnh len vào da thịt, tiết trời tháng Mười gần như khiến chàng đông cứng.

Mệnh quan triều đình… Chàng chẳng qua chỉ là Bí thư thiếu giám tòng tứ phẩm, Đường Nghĩa Tiết là Thái Thường thiếu khanh chính tứ phẩm, phẩm hàm còn cao hơn chàng. Trước kia, chàng từng nghe người nhà họ Trịnh đùa rằng, nếu Ngân Tố không chọn trúng chàng, trong nhà vốn định để thân càng thêm thân… Nhiều năm trôi qua, chàng đã quên mất chuyện ấy, nào ngờ Đường Nghĩa Tiết vẫn chưa thành thân. Chẳng lẽ ngài ấy vẫn luôn đợi Ngân Tố?

Chàng đứng đó, chao đảo như sắp ngã, lúc này mới nhận ra người mình nhẫn tâm buông bỏ hóa ra lại là báu vật trong mắt kẻ khác. Chàng vừa nhường chỗ lang quân ấy lại, người ta đã lập tức nóng lòng tới cửa cầu thân.

Một cơn gió thổi qua, từng khớp xương của chàng đều run lên. Chàng mờ mịt bước về phía trước hai bước, cao giọng gọi: “Thất nương… Ngân Tố… Nàng gặp ta thêm một lần nữa thôi, cầu xin nàng. Ta có lời muốn nói với nàng. Ta đã biết sai rồi, về sau không dám nữa, cầu nàng nể mặt Hòa Nguyệt mà theo ta về đi…”

Giọng chàng vọng khắp trong phường viện, nhưng chẳng nhận được lấy một lời hồi đáp. Người gác cổng nhà họ Trịnh đóng sầm cổng lớn ngay trước mặt chàng. Chàng hiểu, nhà họ Trịnh chẳng còn chừa lại chút đường thương lượng nào. Ngưỡng cửa ấy, chàng sẽ chẳng thể bước qua lần nữa.

Nhưng chàng không cam lòng. Ngân Tố vốn mềm lòng, chỉ cần chàng thật tâm hối lỗi, nàng vẫn sẽ tha thứ cho chàng. Nhà họ Trịnh đóng chặt cửa, cũng chẳng sao, chàng có thể đợi. Dẫu phải đợi đến ngày mai, khi người nhà họ Trịnh ra khỏi phủ vào triều, chàng cũng sẽ đeo roi gai xin tội, nhất định phải cầu Ngân Tố trở về.

Trong nhà họ Trịnh, trên hương án bên cửa sổ đang đốt hương tô hợp. Thỉnh thoảng một cơn gió lùa qua, cuốn tan làn khói xanh vốn thẳng tắp.

Trong một nhà họ Trịnh có không ít người làm quan trong triều. Trưởng huynh của Trịnh Ngân Tố là Trịnh Sân, hiện giữ chức Thượng thư bộ Lại ở Thượng thư tỉnh. Tân Trọng Ân ở ngoài cửa gào gọi một hồi, Trịnh Sân cũng nghe thấy. Người dưới hỏi nên xử trí thế nào, huynh chỉ nói không cần để ý, rồi khép cửa, tiếp tục xem sách.

Trưởng tẩu Hoàng thị ngồi không yên, vội sang viện của Ngân Tố. Thấy nàng đang ôm Hòa Nguyệt, dạy con bé nhận thiên tự văn, thần sắc bình thản, lòng nóng ruột của nàng cũng dịu đi đôi chút. Hoàng thị khẽ gọi tiểu cô: “Nhà bếp hấp canh cá rồi, ta bảo người mang tới, đút cho Hòa Nguyệt ăn một ít.”

Trịnh Ngân Tố nghe vậy mới đặt Hòa Nguyệt xuống đất, cười dặn dò nàng: “Theo nhũ mẫu đi đi, ăn chút gì đó rồi ngủ thêm một lát.”

Nhũ mẫu bước lên dẫn đứa trẻ ra ngoài, trong phòng chỉ còn chủ mẫu cùng nương tử, tiện bề chuyện trò.

Trịnh Ngân Tố đưa tay ra hiệu: “A tẩu, mời ngồi. Bên ngoài náo động, làm kinh động đến a tẩu rồi.”

Ngân Tố là muội muội út trong nhà, cách trưởng huynh mười lăm, mười sáu tuổi. Nói là huynh muội, thực ra tình thân chẳng khác nào cha con. Phụ thân Ngân Tố sức khỏe không tốt, đã cáo quan về Trà Dương từ sớm. Năm xưa nàng kết thân với Tân gia, trước hết vào Trường An ở phủ trưởng huynh, đến ngày đại hôn cũng chính tay huynh tẩu tiễn nàng xuất giá. Bởi vậy, trưởng tẩu hết mực thương yêu nàng. Nghe tin nàng hòa ly với Tân Ngũ lang, Hoàng phu nhân tức giận đến bật khóc một trận.

Nay cô em chồng ở trong phủ mình, Hoàng phu nhân tuyệt nhiên không hề chê trách, còn hết lời an ủi nàng cứ yên lòng. Dẫu là nữ nhi hòa ly trở về nhà mẹ đẻ, Trịnh gia cũng nuôi nổi.

Tiếng gọi của Tân Ngũ lang bên ngoài, Hoàng phu nhân quả thực đã nghe thấy. Bà sai người ra ngoài xem xét, chẳng bao lâu, một bà tử vào bẩm rằng Tân Ngũ lang không chịu rời đi, vẫn đứng chờ trong ngõ.

Hoàng phu nhân nói: “Cần gì phải thế! Đã hòa ly dứt khoát đến vậy thì đừng có hối hận chứ, giờ lại chạy tới hạ mình, chẳng biết là có ý gì!”

Trịnh Ngân Tố nói: “A tẩu đừng bận tâm đến hắn, chẳng ai để ý, tự khắc hắn sẽ đi thôi.”

Hoàng phu nhân vẫn còn lo lắng: “Nhưng cứ thế này cũng chẳng phải cách. Ta thấy hắn dường như thật lòng muốn hối cải. Ta đã bàn với a huynh của muội rồi, mọi chuyện đều tùy ý muội. Nếu muội bằng lòng tha thứ cho hắn, chúng ta sẽ răn đe hắn một phen, bắt hắn lập lời thề ba điều rồi mới để muội theo hắn về. Còn nếu muội không chịu tha thứ cho hắn… dù sao hắn cũng là phụ thân của Hòa Nguyệt, vả lại Tân gia đối đãi với muội cũng tốt. Không nể mặt tăng thì cũng nể mặt Phật vậy.”

Lời ấy là cho nàng bậc thềm để lui xuống, Ngân Tố hiểu rõ. Huynh tẩu đều cho rằng nàng đang lúc giận dữ, đợi cơn giận nguôi ngoai rồi vẫn sẽ quay về. Nhưng sự lạnh nhạt nàng phải chịu đựng suốt thời gian qua đã khiến nàng căm ghét cuộc hôn nhân này.

Nàng nói: “A tẩu không cần khuyên muội. Đời này muội sẽ không trở về Tân gia nữa. Trước ngày hòa ly, muội thức trắng một đêm, suy nghĩ suốt cả đêm, sau khi cân nhắc kỹ càng mới bước ra khỏi Tân gia. Người nhà quả thực đối đãi với muội rất tốt, nhưng muội không thể vì nể mặt người nhà mà sống tạm bợ với hắn cả đời. A tẩu, ban đầu muội gả cho hắn, trước là vì phẩm hạnh tài học của hắn, sau là vì gia quy ba mươi tuổi không nạp thiếp của Tân gia. Vậy mà hắn gặp Hồ tứ nương tử, đến gia quy cũng dám trái phạm. Sau này nếu lại có thêm một hồng nhan tri kỷ, chẳng lẽ muội còn phải chịu nhục nhã thêm một lần nữa?”

Hoàng phu nhân sao có thể không hiểu suy nghĩ của nàng? Tân Ngũ lang dù có tốt đến đâu, rốt cuộc cũng là con thứ. Ngân Tố là đích nữ, lại là con út, từ trước đến nay cả nhà đều yêu chiều nàng. Chuyện chọn chồng, nàng có quyền tự quyết. Vì nàng chọn Tân Ngũ lang, cả nhà mới vui vẻ đưa nàng xuất giá.

Nào ngờ lựa chọn ấy lại sai lầm, khiến tất cả mọi người hối hận khôn nguôi. Nhưng Tân Ngũ lang đáng hận thì đáng hận, vẫn phải nghĩ đến Hòa Nguyệt. Hoàng phu nhân là người rất yêu trẻ nhỏ, trước sau vẫn cho rằng cha mẹ song toàn thì đứa trẻ mới được hạnh phúc.

Bởi thế, bà lại nói: “Quy củ trên đời phần nhiều đều thiên vị nam nhân. Nam nhân nạp thiếp không phạm hình luật, nếu trong mắt không dung nổi hạt cát thì sau cùng người khổ vẫn là chính mình. Hơn nữa, nếu muội tái giá, Hòa Nguyệt muốn gặp a nương một lần, e rằng Tân gia cũng không đồng ý.”

Trịnh Ngân Tố lắc đầu: “A tẩu, lang quân này là do chính tay muội chọn. Muội càng tin tưởng hắn bao nhiêu, hắn làm tổn thương muội càng sâu bấy nhiêu. Nếu muội không đặt kỳ vọng quá cao vào hôn nhân, trong nhà sắp đặt bao nhiêu thiếp thất, muội cũng chẳng để tâm. Còn Hòa Nguyệt, Tân gia đâu phải nhà không nói đạo lý. Các bậc trưởng bối đều cởi mở, cũng yêu thương con cháu. Hòa Nguyệt muốn gặp muội, họ sẽ không ngăn cản.”

Thấy nàng không hề lay chuyển, Hoàng phu nhân cũng yên lòng: “Người ngoài cửa kia, muội quả thật chẳng còn bận tâm chút nào nữa sao?”

Trên mặt Trịnh Ngân Tố hiện lên vẻ thanh thản sau khi được giải thoát. Nàng không còn phẫn uất như mấy ngày trước, ngay cả khi nhớ lại chuyện buồn cũng đã có thể bình thản.

“Từ khi bên ngoài hắn có người, mỗi lần đối diện với muội, hắn đều như mất hồn mất vía. Muội nói thêm vài câu, hắn đã chê muội lắm lời. Có một dạo, muội không dám mở miệng, sợ vừa nói ra đã khiến hắn không vui. Hắn cũng chẳng cãi nhau với muội, chỉ làm ngơ, trách muội không hiểu hắn… Sao muội lại không hiểu hắn chứ? Trước ngày thành thân, hắn còn coi muội là tri kỷ, vậy mà thành thân được vài năm, hai người đã thành kẻ nói gà người nói vịt rồi sao? Tháng ba năm nay, muội phát hiện hắn đã đổi lòng. Sau đó triều đại thay đổi, trong nhà rối ren, hắn cũng yên ổn được một thời gian. Muội nhẫn nhịn nửa năm, về sau thật sự không giữ nổi lòng hắn, chi bằng cứ để hắn cùng người khác nên đôi nên lứa. Nay đã hòa ly, ngựa hay chẳng quay đầu ăn cỏ cũ, muội sẽ không dây dưa với hắn nữa.” Nói rồi nàng khẽ cười, “Vả lại, biểu huynh đợi muội bao nhiêu năm nay, muội cũng thấy có lỗi với huynh ấy. Đã không chê muội thì muội sẽ gả cho huynh ấy. Muội không thể ở nhà mẹ đẻ cả đời, để người ta chê cười.”

Nghe nàng nói vậy, Hoàng phu nhân rất đỗi xót xa: “Ở nhà mẹ đẻ thì có gì phải sợ người ta chê cười? Thời thế này, người hòa ly nhiều lắm, ai dám chắc chuyện ấy sẽ không rơi lên đầu mình vào một ngày nào đó. Có điều, phẩm hạnh của Nghĩa Tiết, ta và a huynh muội đều tin tưởng. Bao năm nay huynh ấy vẫn chưa thành thân, có người hỏi đến, huynh ấy cũng chỉ nói chưa gặp được người mình yêu thích… Năm xưa nếu muội gả cho huynh ấy, có lẽ đã chẳng đi đến bước đường hôm nay.”

Tình cảm biểu huynh dành cho mình, ban đầu Ngân Tố thật ra chẳng cảm nhận được bao nhiêu. Khi ấy nàng mới mười sáu, mười bảy tuổi, một lòng chỉ đặt nơi Tân Ngũ lang, trong mắt căn bản không dung nổi người thứ hai. Đến khi hòa ly, trở về Trịnh gia, biểu huynh nghe tin liền vội vã chạy tới. Huynh chẳng hỏi gì, chỉ nói: “Thất nương, muội về rồi.” Một câu ngắn ngủi, chất chứa biết bao nỗi nhớ mong.

Đời người vốn quanh đi quẩn lại như thế, đúng sai chẳng cần nhắc nữa, tương lai ra sao cũng chưa biết, cứ bước đến đâu hay đến đó.

Tâm ý nàng đã kiên định, một khi quyết định thì sẽ không hối hận. Vì thế, dù Tân Ngũ lang có dùng khổ nhục kế gì đi nữa, cũng không thể lay động được nàng.

Một tỳ nữ từ ngoài bước vào, phủi mấy hạt tuyết trên đầu, cười nói: “Nương tử, tuyết rơi rồi. Mùa đông năm nay đến thật sớm, mấy hôm trước vẫn còn ấm áp lắm.”

Đám thiếu nữ trong viện đều yêu tuyết. Nghe nói tuyết rơi, các nàng lũ lượt kéo nhau ra hành lang ngắm nhìn. Chỉ một chút tuyết bụi li ti cũng đủ khiến họ vui mừng nhảy nhót.

Hoàng phu nhân có phần lo lắng, nghiêng đầu dặn người hầu phụ bên cạnh: “Ra ngoài xem thử, Tân lang tử đi chưa.”

Người hầu phụ vâng lệnh đi, lát sau quay về bẩm: “Vẫn đứng trước cửa ạ. Đội gió đội tuyết, mặt đã tím tái cả rồi.”

Hoàng phu nhân quay lại nhìn Trịnh Ngân Tố, xem nàng có phản ứng gì không. Nàng lại như chẳng nghe thấy, chỉ dặn tỳ nữ: “Thêm hai thanh than nữa. Trông chừng chỗ tiểu nương tử, đừng đóng kín cửa sổ.”

Nàng thật sự chẳng còn chút để tâm nào đến người kia, đối đãi chẳng khác gì người xa lạ. Sau khi lòng đã chết, nàng như niết bàn tái sinh, không còn muốn mang theo ký ức kiếp trước nữa.

Hoàng phu nhân hiểu rõ trong lòng, dặn người hầu phụ: “Ngươi đi đuổi người ta về. Hắn là người Tân gia, nếu chết cóng ngoài phủ chúng ta, sau này khó ăn nói với Tân gia.”

Người hầu phụ vâng lời, kéo chặt áo bước ra khỏi viện. Giữa đường, bà mượn chiếc ô trong tay một tỳ nữ, cười nói: “Đi vội quá, không kịp mang ô. Cho ta mượn dùng trước, việc phu nhân giao quan trọng hơn.”

Bà vội vã đến tiền viện. Cửa lớn hé ra một khe, bà lách qua đó, đứng dưới hành lang nói: “Lang quân, phu nhân trong nhà sai nô tỳ ra truyền lời, mời lang quân trở về. Trời rét căm căm, nếu xảy ra chuyện gì, chúng tôi không gánh nổi tội.”

Tuyết vụn càng lúc càng dày, ào ào phủ lên người, khiến người ta không mở nổi mắt.

Gia bộc bên cạnh Tân Trọng Ân cũng tiến lên khuyên nhủ: “Lang quân, đâu nhất thiết phải là hôm nay. Chi bằng về trước đi, ngày mai lại đến, được không ạ?”

Thấy không thể lay chuyển lòng nàng, Tân Trọng Ân đành tạm thời bỏ cuộc. Nhưng hắn đã đứng quá lâu, khớp chân lạnh cứng, bước đi lảo đảo, rồi ngã nhào xuống đất.

Gia bộc vội chạy đến đỡ hắn. Người hầu phụ truyền lời rụt vào trong cửa, đóng cửa lại lần nữa.

Gia bộc khó khăn lắm mới đỡ hắn lên lưng ngựa, đưa về nhà trong cơn mê man. Vừa bước qua cửa, hắn đã mềm nhũn ngã xuống.

Người gác cửa vội đưa hắn về phòng. Lý phu nhân nghe tin liền tới xem, dặn người sắc canh gừng cho hắn xua khí lạnh. Trong lòng tuy căm hắn tự chuốc lấy, nhưng vì hắn không phải con ruột của mình, bà cũng chẳng tiện tùy ý xử trí.

Hắn như đã mất hai hồn rưỡi, Lý phu nhân nói: “Tương Châu cách Trường An mấy nghìn dặm, bây giờ a da con lên đường, e rằng phải tới cuối năm mới về đến nhà. Dạo này con cứ yên ổn một chút, mọi chuyện đợi ông ấy về rồi hãy nói.”

Tân Trọng Ân nhắm nghiền hai mắt, nằm thẳng đờ như thể đã chết mất một nửa.

Thấy hắn chẳng có phản ứng, Lý phu nhân lui khỏi phòng, hỏi gia bộc đi theo hắn: “Ngũ lang rốt cuộc làm sao vậy? Bị tà nhập à?”

Gia bộc cụp mắt, ấp úng đáp: “Bẩm phu nhân, hôm nay xảy ra nhiều chuyện lắm. Tiểu nhân cùng lang quân đến Lạc Du Nguyên, gặp Hồ tứ nương tử tư thông với nam nhân khác, khiến lang quân tức đến hoa mắt. Sau đó từ nguyên trở về, lang quân đi thẳng đến phường Diên Phúc. Người Trịnh gia đóng cửa không tiếp, đợi nửa ngày mới có một vị phó mẫu ra báo với lang quân rằng Trịnh nương tử đã bàn chuyện cưới hỏi, bảo lang quân về sau đừng đến tìm nàng nữa.”

“Hả?” Lý phu nhân kinh ngạc, “Đã bàn chuyện cưới hỏi rồi ư?”

Gia bộc đáp phải: “Đối tượng là Đường thiếu khanh của Thái Thường tự. Nghe nói là biểu huynh của nương tử, đợi nương tử nhiều năm nay, vẫn chưa thành thân.”

Lý phu nhân lập tức hoảng hốt. Bà vẫn mải nghĩ cách đón người trở về, nào ngờ mới vỏn vẹn năm ngày, người ta đã đính ước rồi.

Bà cuống quýt tìm hai người em dâu, rút khăn tay ra khóc òa: “Phải làm sao đây? E là chẳng khuyên người ta quay về được nữa.”

Cư U và Cư An ngồi nép bên cạnh nghe chuyện. Nghe nói ngũ tẩu đã hứa gả cho người khác, hai người trao đổi ánh mắt, vừa không nỡ, lại vừa khâm phục.

Dương phu nhân chỉ biết thở dài: “Ngũ lang là kẻ khốn kiếp không có phúc phận. Hắn vừa hòa ly, người ta đã lập tức định thân, chẳng chờ lấy một khắc. Phen này hắn biết thế nào là quý giá rồi đấy. Đó là nữ nhi nhà họ Trịnh, vậy mà hắn còn hồ đồ! Hắn như con ruồi mất đầu, cứ ra ngoài làm càn, kết quả Hồ thị ngoảnh đi một cái đã quyến rũ kẻ khác. Đến lúc ấy hắn mới nhớ tới nhà họ Trịnh cầu xin, nhưng muộn rồi!”

Cố phu nhân cũng hết sức bất mãn với ngũ lang: “Chuyện của hắn ầm ĩ khắp nơi, khiến cả nhà mất hết thể diện. Hồ gia nương tử không cha mẹ dạy dỗ, còn đoạn tuyệt qua lại với huynh đệ tỷ muội; đó là hạng người gì chứ, chẳng qua là nhà sa sút! Chỉ có hắn lại nhặt lên xem như báu vật, còn hòa ly với chính thất. Ta nể hắn là cháu nên chẳng thể làm gì, chứ nếu là con ta, ta nhất định đánh gãy chân nó!”

Cư U lại quan tâm hơn đến bến đỗ sau này của ngũ tẩu, bèn nghiêng người hỏi: “Thân sự a tẩu được mai mối thế nào? Lang quân là người ra sao?”

Nhắc đến chuyện này càng thêm đau lòng, Lý phu nhân lau nước mắt đáp: “Đường Nghĩa Tiết, thiếu khanh Thái Thường tự.”

Cư An “á” lên một tiếng, không giấu nổi vẻ mừng rỡ: “Quan chức còn cao hơn ngũ huynh, lang quân mới của a tẩu thật tốt!”

Kết quả, trưởng bối đều nhìn nàng chằm chằm. Biết mình lỡ lời, nàng vội đổi sắc mặt, đau buồn khôn xiết nói: “A tẩu tốt như vậy, thế mà sắp phải gả cho người khác rồi…”

Ai nấy đều biết tỷ muội các nàng một lòng một dạ, chuyện này chẳng ai đứng về phía huynh trưởng mình. Thậm chí khi biết a tẩu tái giá, lang quân lại có điều kiện rất tốt, các nàng còn thật lòng mừng thay cho nàng.

Vẫn là Cố phu nhân rộng rãi hơn. Bà tiếc nuối một hồi rồi nói thôi: “Đã hòa ly rồi, đừng nghĩ cách kéo người ta về để tiếp tục chịu khổ nữa. Nếu có mối nhân duyên tốt, cứ để nàng đi theo.”

Lý phu nhân nói: “Ta đâu phải đau lòng cho ngũ lang, ta đau lòng cho Hòa Nguyệt kia! Trước đó bá phụ nói, muốn ngũ lang tự xin rời khỏi tông tịch. A da hắn trở về, tám phần cũng có ý ấy, e rằng còn phải trói hắn đến cửa nhà họ Trịnh xin tội. Những chuyện khác chẳng đáng ngại, nhưng nếu thật sự rời khỏi tông tịch, Hòa Nguyệt phải làm sao? Con cái và phụ thân cũng có thể đoạn tuyệt qua lại sao? Sau này Hòa Nguyệt phải chịu bao nhiêu lời đồn tiếng thị phi, ta không dám nghĩ đến. Đời này e là bị a da nó hủy hoại mất.”

Cư An nghe hồi lâu. Nàng tuy vẫn nhút nhát như trước, đầu óc lại rất lanh lợi: “Để trưởng tỷ nhận Hòa Nguyệt làm nữ nhi đi, như vậy thân phận danh giá đều có cả.”

Nào ngờ Cố phu nhân lại bảo nàng không được nói bừa: “Con có biết sau này con cái của trưởng tỷ sẽ là người thế nào không? Chuyện này há có thể tùy tiện nhận làm nữ nhi?”

Ba người em dâu ngồi đối diện nhau. Ngoài kia gió tuyết mịt mùng, gian sảnh sâu hun hút, thế nào cũng chẳng ấm lên được.

Nghĩ tới nghĩ lui, Lý phu nhân rốt cuộc cũng hạ quyết tâm: “Hay là ta bất chấp mặt mũi, đến nhà họ Trịnh một chuyến vậy. Nếu Ngân Tố chịu quay về, Ngũ lang cũng có thể giữ được.”

Dương phu nhân và Cố phu nhân chẳng còn cách nào khác, không thể khoanh tay đứng nhìn, đành miễn cưỡng nói: “Đợi tuyết ngừng rơi, chúng ta sẽ cùng bà đến đó. Nhưng rốt cuộc có khuyên được nàng ấy trở về hay không, đành nghe theo ý trời vậy.”