Cho nên, hẳn chắc chắn là Thái tử rồi.
Theo mắt nhìn của nhạc mẫu mà nói, chỉ riêng dung mạo này đã thật sự chẳng chê vào đâu được, sánh với Thù Thắng nhà bà, cũng coi như xứng đôi vừa lứa.
Dĩ nhiên, nhạc mẫu phải giữ thái độ của nhạc mẫu. Người chưa đến trước mặt, chưa đến hành lễ với bà, bà sẽ không chủ động bắt chuyện. Mặc kệ hắn có thân phận gì, đã bước qua ngưỡng cửa Tân gia thì cũng chỉ là một lang quân mà thôi.
Thế là Dương phu nhân điềm đạm nhìn huynh đệ Trọng Hối dẫn người tới trước mặt. Trọng Uy nghiêm trang chắp tay hành lễ, vị lang quân tương lai khẽ nâng tay, ra hiệu miễn lễ, sau đó cung kính cúi mình vái Dương phu nhân, nói: “Trạch Thanh xin thỉnh an phu nhân. Trước đó làm lễ nạp thái, ta chưa đến phủ bái kiến Hữu tướng và phu nhân, là ta thất lễ, mong phu nhân rộng lòng tha thứ.”
Hai hôm trước, Dương phu nhân đã nghe gia chủ nói, ngày mười sáu Thù Thắng sẽ về nhà đón tiết, có lẽ sẽ đợi được Thái tử tới thăm. Bà vốn tưởng phải đến tối người mới tới, không ngờ lại đến sớm như vậy.
Trước kia bà còn oán trách hoàng gia kiêu kỳ, đính hôn rồi mà cũng chẳng đến hành lễ. Nhưng nghĩ lại, đó vốn là phép tắc xưa nay. Nay người đã tới cửa, trông lại nho nhã, lễ độ, cơn giận trong lòng bà dần tan đi đôi chút, trên mặt cũng nở nụ cười, khẽ gật đầu nói: “Thái tử điện hạ không cần đa lễ. Nhà cửa đơn sơ mà được điện hạ đại giá quang lâm, đã là vinh quang của cả nhà. Điện hạ khách sáo thêm nữa, trái lại khiến chúng ta chẳng biết phải làm sao.”
Lăng Tố ở chốn đông người xưa nay vẫn giữ vẻ khiêm nhường, điềm đạm. Sau khi bái kiến Dương phu nhân, hắn lại hành lễ với Lý phu nhân và Cố phu nhân có mặt tại đó, khiến hai vị thím được sủng mà kinh.
Lễ nghi qua lại là điều không thể thiếu. Tiếp đó, người Tân gia đồng loạt hành lễ vấn an Thái tử. Cả nhà cùng cúi mình, Lăng Tố nói: “Hôm nay vẫn đang trong tiết, ta mạo muội đến thăm, e rằng đã làm phiền nhã hứng của mọi người.” Vừa nói, hắn vừa liếc nhìn Cư Thượng, thấy nàng đơ mặt, vẻ thất vọng hiện rõ, hắn cũng chẳng để bụng, lại mỉm cười với mọi người: “Ta và đại nương tử đã đính hôn, cũng xem như người một nhà. Người một nhà không cần khách sáo, cứ coi ta như một lang quân bình thường là được.”
Quả nhiên Thái tử điện hạ thật dễ gần, chỉ dăm ba câu đã khiến mọi người trút bỏ gánh nặng trong lòng.
Nhân phẩm, dung mạo đều xuất chúng, lời ăn tiếng nói cũng vô cùng thỏa đáng; theo mắt nhìn của nhà gái, thật sự rất vừa ý.
Cư An ghé bên tai trưởng tỷ, thì thầm: “Trước đây muội cứ tưởng A tỷ bị giam ở hành viên, chịu ấm ức lắm. Giờ xem ra, chịu ấm ức cũng đáng.”
Ý nàng là mỹ sắc ngay trước mắt, còn chuyện gì mà chẳng thể thương lượng? Hai tỷ muội đều dễ bị sắc đẹp làm cho xiêu lòng.
Bên kia, Lý phu nhân và Cố phu nhân chắp tay sau lưng, mỉm cười hài lòng. Thù Thắng tuy không phải do họ sinh ra, nhưng con gái trong nhà cũng như con gái chung, ai chẳng mong lang quân cưới được tân phụ tốt, nữ lang gả được lang quân tốt. Huống hồ lang quân tốt này còn có thể nâng đỡ cả gia tộc, nói ra là chuyện vô cùng vẻ vang, nên hai người đều hết lòng mừng cho huynh trưởng và tẩu tẩu.
Chỉ có một người, đối với việc Thái tử đến lại cảm thấy vô cùng không thoải mái. Khi cả nhà đều đang đón tiếp Thái tử, vẻ mặt nàng có phần cô quạnh.
Cư Thượng tuy không lên tiếng, nhưng từ lúc Lăng Tố bước vào cửa, nàng đã âm thầm để ý nét mặt Quận chúa Ấp Dương. Có lẽ vì sắp làm mẹ, nàng đã kiềm chế cảm xúc tốt hơn trước nhiều, chỉ cúi đầu, đôi mày khẽ nhíu lại, gần như chẳng thể nhận ra.
Đó cũng là lẽ thường tình. Theo nàng, tiền triều bị tân triều thay thế, phụ thân lại chết một cách kỳ lạ, mẫu thân bị đưa đến nơi cách xa nghìn dặm để tu đạo, nút thắt trong lòng ấy sao có thể dễ dàng tháo gỡ! Nhưng nàng đã xuất giá theo chồng, người trong nhà chồng đều mừng vì tiểu cô được gả cho lang quân thuộc nhà kẻ thù, nàng có thể làm gì đây? Nếu chẳng thể vui mừng như họ, vậy cứ giữ im lặng, cố gắng đừng khiến mình trở nên nổi bật là được.
Cư Thượng hiểu hoàn cảnh khó xử của nàng. Chờ các huynh trưởng dẫn Lăng Tố sang phía bên kia đại sảnh dùng trà, nàng bước tới nắm tay Quận chúa, hỏi: “Hôm nay đông người, tẩu có thấy quá ồn ào không? Nếu không thích chốn này thì về nghỉ ngơi đi. Dẫu sao trong bụng tẩu còn mang tiểu lang quân, không nên quá nhọc sức.”
Quận chúa Ấp Dương cảm kích nhìn nàng, nhưng lại sợ cứ thế rời đi sẽ khiến Thái tử sinh nghi, bèn chần chừ nói: “E là thất lễ…”
Cư Thượng cười đáp: “Có các huynh trưởng đi cùng, vốn dĩ chẳng cần đến chúng ta, sao có thể gọi là thất lễ.”
Nói rồi, nàng thấy phụ thân bước nhanh từ ngoài cửa vào, miệng vui vẻ tiếp đón: “Ta chỉ vừa rời đi một lát, điện hạ đã đại giá quang lâm…”
Đã thế, hẳn chẳng ai để ý đến các nàng nữa. Cư Thượng nói: “Nếu tẩu mệt thì cứ về nghỉ đi. Nếu có ai hỏi, muội tự khắc sẽ thay tẩu thu xếp ổn thỏa.”
Lúc này Quận chúa mới thở phào nhẹ nhõm. Nàng cũng biết sau này mình phải nghĩ thoáng hơn. Dẫu sao Tân gia đã bình an chuyển sang tân triều, hôn sự của huynh đệ tỷ muội trong nhà về sau ắt sẽ có nhiều liên hệ với Lăng gia và các thế gia mới nổi. Nàng là người cũ của tiền triều mà còn có được một chỗ đứng, đều nhờ nhạc phụ nhạc mẫu yêu thương, các tiểu cô cảm thông. Trong lòng vừa chua xót vừa cảm khái, nàng cúi đầu khẽ đáp một tiếng, rồi để nhũ mẫu dìu về viện của mình.
Cư U nhìn theo bóng nàng, trong lòng rất đỗi thương cảm: “Tẩu tẩu thật chẳng dễ dàng gì.”
Cư An nói: “Đợi thêm một thời gian, mọi người thân thiết với nhau rồi sẽ ổn thôi.”
Lời rằng thời gian có thể xóa nhòa ân oán nghe thật tẻ nhạt, nhưng xét kỹ thì cũng là sự thật. Giờ đây, họ chỉ còn biết gửi gắm hy vọng vào điều ấy.
Nói xong chuyện trưởng tẩu, họ chuyển sang bàn về tân tỷ phu. Cư U khẽ nói: “Thái tử điện hạ tuấn tú thật đấy, muội thấy còn hơn cả điện hạ Tồn Ý.”
Cư An lại cho rằng hai người chẳng thể đem ra so sánh: “Điện hạ Tồn Ý gầy yếu, trói gà không chặt. Huynh ấy đứng cạnh trưởng tỷ, muội cứ lo huynh ấy sẽ bị trưởng tỷ đánh.”
Nghe vậy, Cư Thượng dựng cả lông mày: “Ta rảnh rỗi đến mức đi đánh huynh ấy làm gì!”
Nhưng nhắc đến Tồn Ý, nàng lại thấy bùi ngùi. Năm nay chàng đón Trung thu một mình, e rằng đến một bát canh ngoạn nguyệt cũng chẳng được uống! Giờ nàng không tiện đi thăm chàng, cũng chẳng biết hiện giờ chàng sống thế nào. Lần trước nghe tam huynh nói sẽ tìm dịp mang ít đồ sang cho chàng, đến lúc ấy cứ nhờ tam huynh thay nàng hỏi thăm một tiếng vậy.
Bên kia, Lăng Tố rất nhanh đã hòa nhập vào đại gia đình này, thân thiết với tất cả mọi người. Từ triều chính đến chợ búa, từ chính kiến đến săn bắn, chẳng có chuyện gì chàng không thể tiếp lời. Thỉnh thoảng, cách qua sảnh đường rộng thênh thang, chàng lại nhìn về phía Cư Thượng; ánh mắt ấy dường như rất đắc ý vì sự xuất hiện bất ngờ của mình.
Trong lòng Cư Thượng bực bội, ghét bỏ quay mặt đi. Dương phu nhân trông thấy thì lấy làm khó hiểu, hạ giọng hỏi: “Sao vậy? Ở hành viên giận dỗi à?”
Cư Thượng nói: “Con muốn ở nhà một đêm, vốn dĩ đâu có tính để chàng ấy tới.”
Dương phu nhân lại nói một câu công bằng: “Dẫu chàng ấy không tới, tối con cũng phải về hành viên, đó là quy củ. Hơn nữa, ngày nạp định chàng ấy không lộ diện, chẳng lẽ cả đời không qua lại với nhạc gia sao? Đằng nào sớm muộn gì cũng phải tới, đã đến thì phải tiếp đãi tử tế, mau đừng giận dỗi nữa.”
Cư Thượng thở dài, phát hiện a nương có vẻ sắp ngả về phía đối phương. Quả nhiên mẹ vợ nhìn con rể, càng nhìn càng thấy vừa lòng.
Đang buồn chán, nàng chợt nhớ tới lời Trần Quốc phu nhân. Nhớ bà từng nói Bành Thành quận vương trước kia làm tham quân dưới trướng Thái tử, tai mắt sẵn có ngay trước mặt, hỏi ai cũng chẳng trực tiếp bằng hỏi Lăng Tố. Bởi vậy, đợi mọi người đều bận rộn chuẩn bị yến tiệc, nàng mới lân la tới gần, cuối cùng cũng nói được với chàng một câu. Câu đầu tiên đã hỏi: “Hôm nay lang quân không bận chính sự sao? Chẳng phải chàng nói tối mới tới à?”
Lăng Tố đáp: “Chính sự có bận mấy cũng chẳng hết. Trung thu nghỉ ba ngày, hôm nay nghỉ ngơi, mai làm bù là được.” Nói rồi chàng xoay mắt nhìn nàng dò xét, “Sao, tiểu nương tử không hoan nghênh ta?”
Cư Thượng mỉm cười: “Sao có thể chứ, lang quân đại giá quang lâm, nhà ta được rạng rỡ biết bao. A nương còn dặn phải tiếp đãi lang quân tử tế nữa.” Nàng ngừng một lát rồi nói tiếp: “Ta muốn hỏi chàng về một người, Bành Thành quận vương, lang quân có quen không?”
Lăng Tố im lặng thoáng chốc, ánh mắt nhìn nàng thêm mấy phần cảnh giác: “Nàng quen hắn?”
Cư Thượng thầm nghĩ thật xui xẻo, ánh mắt chàng là sao vậy! Cứ như thể hễ nàng nhắc tới một nam nhân nào, thì đều có chuyện cũ với người ta. Nàng không đáng tin đến thế ư?
Nhưng người ta quyền cao thế lớn, nàng đành khuất phục trước uy thế của chàng, nhẫn nại giải thích: “Trong tiệc Trung thu hôm qua, Trần Quốc phu nhân nhắc với ta một chuyện, nói Việt vương phi muốn thay Bành Thành quận vương, cầu hôn nhị nương.”
Lúc này Lăng Tố mới chậm rãi đáp: “Bành Thành quận vương là người dũng mãnh thiện chiến, lại có mưu lược. Mấy trận đại chiến ở Sóc Châu đều do hắn chỉ huy, lập nên chiến công hiển hách. Đại Lịch lập triều, Thánh thượng sắc phong ba vị quận vương khác họ, hắn là một trong số đó.”
Nói như vậy thì quả thật chẳng thể chê vào đâu được, thân phận không có gì đáng bắt bẻ, còn lại chỉ là phẩm hạnh.
Hôm tiệc nhà Triệu vương, ngoài thế tử Triệu vương ra, Cư Thượng chẳng để ý đến ai khác, nên nàng không có chút ấn tượng nào về lời “mắt hau háu” mà Cư An đã nói. Nếu Lăng Tố quen biết hắn, hẳn là biết đôi điều nội tình, bèn mặt dày dò hỏi: “Vị quận vương ấy có đứng đắn không? Bình thường có ham sắc không?”
Lăng Tố trầm ngâm một lát: “Ham sắc? Thế nào mới tính là ham sắc?”
Chẳng phải chàng biết rõ còn cố hỏi sao? Cư Thượng cho rằng hai người đều là nam nhân, e chàng có ý bao che, bèn hỏi thẳng hơn: “Tức là trông thấy nữ lang thì mắt nhìn đờ ra, tìm đủ cách muốn thân cận… đại loại như vậy.”
Thái tử thấy rất buồn cười: “Trông thấy nữ lang mình thích mà mắt nhìn đờ ra, đâu thể tính là tội lỗi. Muốn thân cận nàng ấy cũng là lẽ thường tình.” Dĩ nhiên, dưới ánh mắt nhìn chằm chằm của nàng, chàng vẫn tiết lộ một chút chuyện nàng chưa hỏi tới: “Khi đồng liêu mở tiệc, uống đôi chén hoa tửu, vũ cơ mời mọc, thỉnh thoảng hắn cũng vui lòng nhảy một khúc. Như vậy có tính là không đứng đắn không?”
Nói thế nào nhỉ, định nghĩa về sự đứng đắn trong mắt nam nhân và nữ lang vốn khác nhau. Nam nhân trên quan trường tất phải có giao thiệp, nhất là trong quân doanh tập trung đông võ tướng, gần như không thể tránh khỏi. Nam nhân cho rằng ôm kỹ nữ uống hoa tửu chẳng có gì đáng kể, nhưng trong mắt nữ nhi, loại nam nhân ấy hiển nhiên có phần không sạch sẽ.
Nàng bắt đầu cân nhắc, kết quả lại nghe Lăng Tố buông một lời nhận xét như thể thuận miệng: “Đấng nam nhi trên đời này, có mấy người giữ mình trong sạch được như ta?”
Vốn tưởng quá khứ đáng tự hào như vậy ít nhất cũng khiến nàng nhìn mình bằng con mắt khác, nàng quả thực kinh ngạc nhìn sang: “Thật sao?”
Lăng Tố đang tựa lan can trước đài ngắm cảnh, nhìn xa xăm, nghiêm trang đáp rằng dĩ nhiên: “Đại nghiệp chưa thành, há có thể say sưa hưởng lạc.”
Thế rồi chàng lại nhận về tiếng cười nhạo không chút nể tình của Cư Thượng. Quả nhiên chàng chỉ như tờ giấy trắng, chẳng hiểu tình ái là gì.
Ông trời ơi, từ lần đầu trông thấy chàng trên tường, dáng vẻ nghiêm khắc ấy tuy dọa người, nhưng nàng chưa từng nghi ngờ rằng sau lưng người khác, chàng cũng có thú vui riêng. Kết quả náo loạn nửa ngày, e rằng ngay cả tay nữ lang chàng cũng chưa từng nắm qua. Nàng thật chẳng hiểu hai mươi lăm năm đời chàng đã sống thế nào; người ta đêm đêm tửu sắc ngựa xe, còn chàng chỉ biết lau đao mài kiếm thôi sao?
Lúc nhìn chàng lần nữa, ánh mắt nàng rõ ràng mang theo đôi phần thương hại: “Lang quân quả là một chính nhân quân tử.”
Thần sắc Lăng Tố khó dò, bởi chàng không rõ rốt cuộc nàng đang khen mình hay đang chế giễu mình.
Cư Thượng nhanh chóng biết điều, quay về chuyện chính: “Vậy theo lang quân, Bành Thành quận vương có phải người đáng để phó thác cả đời không?”
Chuyện này liên quan đến cả đời của nữ lang. Chuyện Tân nhị nương trước kia gặp phải Hàn Dục, vừa đáng buồn vừa đáng tiếc, Lăng Tố đã nghe Cư Thượng kể sống động như thật. Lần này bàn đến chuyện gả cưới nghiêm túc, chàng phải dựa theo những gì mình biết bấy lâu, đưa ra lời khuyên đáng tin cậy nhất.
“Trong quân, nam nhân chưa từng tiếp xúc với nữ lang không nhiều. Nhưng chỉ uống đôi chén rượu, nhảy một điệu múa, ta cho rằng không có gì đáng trách. Nếu phải kể những việc làm của kẻ ham sắc, e sẽ làm bẩn tai tiểu nương tử, không nhắc đến thì hơn. Nhưng về Độc Cô Nghi, ta chưa từng nghe bất kỳ lời đồn nào về hắn. Thánh thượng phong tước không chỉ xét quân công, mà còn xét phẩm hạnh. Ta nói như vậy, tiểu nương tử hẳn đã hiểu rồi chứ?”
Nàng hiểu rõ hơn ai hết. Người không hiểu chuyện nữ sắc như Thái tử dẫu sao cũng chẳng có mấy, chỉ cần có thể giữ đúng mực, coi đó đơn thuần là xã giao, đã đủ quý hiếm rồi.
Hỏi cho rõ đầu đuôi, nàng lập tức về bẩm lại với thím. Vừa khéo cũng tới giờ ăn trưa, nam nữ chia làm hai nơi mở tiệc. Cư Thượng bèn thuật lại nguyên lời Thái tử cho các trưởng bối nghe. Mọi người bàn bạc một phen, đều thấy vị lang quân này có thể cân nhắc.
Lại nhìn Tân Cư U, nàng vẫn bình thản dùng điểm tâm trước mặt, tựa như chuyện chẳng can hệ gì đến mình.
Tân Cư An lấy khuỷu tay huých nàng, “A tỷ, tỷ nói một câu đi chứ?”
Tân Cư U đáp: “Nói gì đây? Người ta là người ta vừa ý, thư từ qua lại suốt hai tháng, cuối cùng công cốc một phen. Giờ ta cũng chẳng còn kiên nhẫn nữa. Hôn sự trong nhà thu xếp chưa chắc đã không đáng tin, chỉ cần người ta trông không quá khó coi là được.”
Điều đáng lo nhất chẳng qua là võ tướng thường cao lớn thô kệch. Ban đầu, ba vị phu nhân cũng từng lo Thái tử như vậy. May mà gặp người thật, dáng vẻ không như tưởng tượng, vậy vị Bành Thành quận vương kia hẳn cũng không đến nỗi quá mức cường tráng chứ?
Lý phu nhân thở phào nhẹ nhõm, “Đã vậy, hãy nhận tấm thịnh tình của Trần Quốc phu nhân. Cũng không cần sai người sang đó nữa, ta sẽ cho Dư ma ma đi một chuyến, truyền lời là được. Còn Việt vương phủ có đến cửa hay không, cứ xem họ sắp xếp thế nào.”
Tân Cư An cảm thấy nhất định họ sẽ tới. Nàng vừa ăn bánh cua, vừa tranh thủ nói với Tân Cư U: “Lần trước ở Tây Minh tự, a tỷ rút được thẻ chủ nhân quan cao. Quận vương chẳng phải là một trong những vương tước khác họ có địa vị cao nhất sao? Còn cao hơn quận hầu mấy bậc ấy.”
Tân Cư U chẳng mấy bận lòng, dù sao nữ lang đến tuổi cũng phải bàn chuyện hôn nhân. Người ta đến cửa cầu thân, vẫn hơn thánh chỉ ban hôn vơ đại chẳng kể đầu đuôi. Nếu quả thật gả được cho chủ nhân quan cao, cũng coi như an ủi trái tim từng vô cớ tổn thương trước kia.
Nữ quyến ít dùng rượu nên tiệc tàn rất nhanh, nhưng bên nam khách lại kéo dài vô cùng. Bọn họ uống rượu, mổ dê đãi khách, phần nào dùng buổi tối cũng được định trước, rồi thong thả chuyện trò. Một bữa cơm ít nhất cũng phải ăn đến khoảng trước giờ Mùi chính.
Tân Cư Thượng chẳng có nhã hứng ngồi tiêu khiển ở tiền viện, bèn cùng muội muội và các tẩu tẩu trở về hậu viện, theo lệ chơi ném thẻ vào bình. Lần này nàng đã nắm được bí quyết, ném phát nào trúng phát ấy, chuẩn đến nỗi ngay cả tứ tẩu lợi hại nhất cũng phải nghi nàng giở trò.
Tân Cư Thượng cười ha hả, “Hôm nay không cược rượu đấy. Nếu cược rượu, e là các nàng đều bị ta chuốc say mất.”
Tân Cư An xoay mũi tên trong tay, cảm khái: “A tỷ tìm được danh sư rồi sao? Xem ra làm Thái tử phi, đúng là mặt mũi lớn thật!”
Tân Cư Thượng muốn quy hết công lao cho bản thân đã ngộ ra bí quyết hơn, nên tránh không đáp lời về danh sư. Nàng lại chơi thêm hai lượt cho thỏa thích rồi mới thu tay, định trở về ngủ trưa.
Than ôi, căn phòng xa cách một tháng, nay quay lại, trong lòng nàng không khỏi xúc động. Chẳng biết cuộc khảo nghiệm ở hành viên khi nào mới kết thúc. So với hai tòa tẩm lâu đối diện nhau kia, nàng vẫn thích tiểu viện riêng của mình hơn; bên cạnh một ao nước lặng, tao nhã lại có tình ý.
Nàng nằm xuống mỹ nhân tháp bên cửa sổ, chiếc quạt tròn trong tay chẳng dùng đến, buông lơi đặt trên bụng. Mơ màng chợp mắt chừng một canh giờ, tỉnh dậy, nàng thò người hỏi Dược Đằng: “Ngươi nói xem, Thái tử điện hạ có khi nào đột nhiên có công vụ, đã về Đông cung rồi không?”
Hôm nay Dược Đằng đau răng, đã xem đại phu mà chẳng thấy khá hơn, nửa bên má hơi sưng, vậy mà còn định thu xếp đi xem nàng. Tân Cư Thượng vội gọi nàng lại, thấy dáng vẻ nàng đáng thương, bèn để nàng nghỉ ngơi, còn mình đích thân ra tiền viện dạo một vòng.
Nàng nhìn quanh bốn phía, chẳng thấy Lăng Tố đâu, trong lòng lén vui mừng, nói không chừng hắn thật sự đã về rồi.
Đúng lúc mấy tỳ nữ đi ngang dưới hành lang, nàng vội hỏi các huynh trưởng đi đâu. Tỳ nữ đáp: “Các lang quân cùng Thái tử điện hạ đi đánh mã cầu rồi ạ.”
Trước mắt nàng bỗng choáng váng, nàng ôm trán trở về tiểu viện. Thấy Dược Đằng đang chống má, nàng chợt nảy ra một ý, “Lát nữa gặp Thái tử điện hạ, cứ nói ta đau tim.”
Đau tim thì cần mẫu thân chăm sóc, tối nay có thể không phải về hành viên nữa. Tin tức này được truyền đi đúng như nàng mong muốn, Dược Đằng với má sưng tấy thấp thỏm bất an, “Tiểu nương tử, làm vậy được không ạ?”
Tân Cư Thượng thấy có thể thử một phen, cùng lắm thì tối nay không ăn bữa tối.
Sau đó phụ mẫu và các thím đều kéo tới. Mọi người đứng trước tháp quan sát hồi lâu, a da lên tiếng: “Con lại giả bệnh đấy à, như hồi còn đi học ấy?”
Cố phu nhân cũng vạch trần nàng, “Trước kia hễ muốn trốn học là con lại giả đau tim, chẳng bao giờ biết đổi chỗ đau.”
Tân Cư Thượng rên hừ hừ, bị họ nói đến nỗi chẳng rên nổi nữa, đành ngẩng cổ lên, ngượng ngùng nói: “Dù sao tối nay con cũng không muốn về hành viên.”
Ôi, con cái quyến luyến nhà mình, có gì sai đâu. Mọi người trao đổi ánh mắt, quyết định giữ im lặng.
Đợi các lang quân đánh mã cầu trở về, trời đã sắp tối. Vừa bước vào cửa, nghe nói đại nương tử đau tim, thất huynh Trọng Thiện buột miệng: “Sao lại đau tim nữa…”
Ống tay áo chợt bị lục huynh Trọng Vọng giật mạnh một cái. Trọng Vọng nói: “Chắc là hai ngày nay mệt mỏi quá…” Vừa nói vừa cười gượng, “Nhất định là mệt rồi.”
Huynh đệ Tân gia nhìn nhau, ánh mắt qua lại tựa tên bay. Lăng Tố vẫn điềm nhiên như cũ, “Ta đi thăm nàng.”
Thế là mọi người cùng chuyển bước vào viện của Tân Cư Thượng. Thấy nàng nằm thẳng đơ trên tháp, không nhúc nhích, tam huynh Trọng Huy hỏi tỳ nữ: “Đã mời y công đến xem chưa?”
Dược Đằng nói không rõ tiếng, trong đám tỳ nữ có Hầu Nguyệt, người dù Thái Sơn sụp trước mặt cũng không đổi sắc, đứng ra đáp quả quyết: “Đã xem rồi ạ. Y công nói tiểu nương tử nhiều ngày liền vất vả, lao tâm lao lực, phế âm hư tổn, hư hỏa đốt lạc mạch; tạm thời không nên di chuyển, cần an tâm tĩnh dưỡng.”
Tân Trọng Vọng vui vẻ nói: “Thấy chưa, quả nhiên là vậy!”
Đại huynh thở dài, “Đã cần tĩnh dưỡng thì chúng ta đừng ồn ào ở đây nữa, ra ngoài thôi.”
Thất huynh đã hiểu rõ cách nàng giở trò, bèn ân cần nói: “Đừng xuống tháp, huynh sẽ sai người mang bữa tối tới cho muội.”
Cuối cùng Tân Cư Thượng cũng hé mắt, yếu ớt nói: “Đa tạ huynh. Muội thấy đỡ hơn rồi, chỉ là chân không còn sức…”
Các huynh trưởng nói không sao, “Cứ tĩnh dưỡng cho tốt, ngủ một đêm là khỏe lại thôi.”
Vở kịch diễn đã đủ, mọi người đều phối hợp nhịp nhàng. Tân Cư Thượng thầm vui trong lòng, cho rằng Lăng Tố mới đến đây, nhất định không nhìn thấu mánh khóe bên trong.
Nàng đang định dặn Hầu Nguyệt báo với người hầu bên ngoài đưa điện hạ về thật chu đáo, chẳng ngờ mọi người vừa nhấc chân, Lăng Tố lại đứng nguyên tại chỗ, không hề rời đi. Hắn lo lắng nói: “Tiểu nương tử bệnh nặng như vậy, ta không thể yên lòng trở về hành viên. Tối nay ta sẽ ở đây trông nom nàng, lỡ có việc gì cũng tiện chăm sóc.”
Phong Nguyệt Thú