Phong Nguyệt Thú

Chương 35: Quan tâm ắt loạn

Thế nào gọi là hỏng mất phẩm tướng? Trong mắt nàng, hắn là một lư hương hay một chiếc bình hoa?

Lăng Tố vô cùng thất vọng, phẫn nhiên quay người ngồi lại vào ghế bành, để y quan xử lý vết thương cho mình. Khăn gạc tẩm nước muối nhạt lau qua má, hắn không khỏi nhíu mày. Tân Cư Thượng lập tức ghé tới, khẽ hỏi: “Lang quân, đau lắm không?”

Hắn nhướng mắt, bực bội đáp: “Dao cứa lên mặt, nàng nói xem có đau không?”

Y quan đã hết sức cẩn thận, vậy mà vẫn khiến hắn hít ngược một hơi lạnh.

Hắn chỉ hơi có động tĩnh, người hầu hạ bên cạnh đã luống cuống chân tay. Y quan lo đến nỗi tim như treo tận cổ họng, dè dặt thưa: “Xin Điện hạ hãy nhẫn nại. Phải làm sạch vết thương trước, sau đó mới có thể bôi thuốc.”

Điều Tân Cư Thượng quan tâm lại là chuyện khác. Nàng đứng bên cạnh hỏi: “Vết thương như thế này, sau này có để lại sẹo không?”

Nói thật, Lăng Tố cũng để tâm đến điều ấy, bèn chuyển mắt nhìn y quan.

Vị y quan nhỏ bé cảm nhận được áp lực chưa từng có, nuốt nước bọt rồi đáp: “Bẩm nương tử, vết thương không sâu, chỉ rách một lớp da thịt. Cẩn thận điều dưỡng chừng một tháng, tự nhiên sẽ chẳng còn thấy nữa.”

Nghe được lời này, Tân Cư Thượng mới yên lòng: “Ta biết rồi, phải ăn ít tương, trong tháng này khẩu vị nên thanh đạm là chính.” Nói rồi nàng lại ghé qua xem xét. Máu trên vết thương đã được lau sạch; ban nãy máu me bết đỏ, trông có phần đáng sợ. Bây giờ nhìn lại, thật ra chỉ là một đường mảnh, chẳng cần đến ba năm ngày, bề mặt đã có thể khép miệng.

Nếu có thể dưỡng lành thì cũng chẳng đáng ngại. Lúc này Tân Cư Thượng mới nhớ ra phải quan tâm đến chính hắn, nàng hết sức cảm thông, nói: “Sao lang quân lại bị thương nặng đến vậy? Thật khiến thiếp sợ hãi.”

Nàng sợ hãi ư? Sợ đến nỗi tưởng mình gả phải một vị Thái tử tàn khuyết, phụ mất đôi mắt vốn quen nhìn người qua vẻ ngoài của nàng chứ gì!

Lăng Tố quay mặt đi, nhàn nhạt nói: “Bị tập kích. Nếu không tránh kịp, cổ đã bị cứa đứt rồi.”

Lần này dường như nàng thật sự bị dọa, mở to mắt, kinh ngạc khôn xiết: “Trên lưỡi đao không tẩm độc chứ? Thiếp đọc sách thấy, thích khách thường hạ độc trước, cốt để một đòn đoạt mạng.”

Thái tử càng thêm tức giận: “Con dao ấy còn nằm trong túi thịt, tẩm độc thì hắn ta đã chết trước rồi.” Hắn cau mày lạnh lùng liếc nàng: “Không có độc, nàng thất vọng lắm sao?”

Tân Cư Thượng đáp, sao có thể như vậy: “Thiếp đâu phải kẻ ngốc, lại mong lang quân gặp chuyện.”

Y quan bôi thuốc xong. Vết thương quả thực rất nông, không cần băng bó. Dặn dò nội thị những điều cần chú ý khi hầu hạ xong, y quan hành lễ rồi lui ra.

Lăng Tố đứng dậy, đang định cầm ấm rót trà, Tân Cư Thượng đã nhanh tay đón lấy, ân cần nói: “Lang quân cứ ngồi đi. Bị thương thế này, còn phải tự tay pha trà sao? Để thiếp, để thiếp.”

Một dòng nước ánh bạc rót vào chén vàng. Nàng nâng chén bằng hai tay đưa tới, quan tâm hỏi: “Lang quân còn nâng chén được không? Có cần thiếp đút cho chàng không?”

Hắn nhìn ra rồi, nàng cố ý chạy tới chọc tức hắn.

Lăng Tố không vui nói: “Ta có gãy tay đâu, tự nâng chén được.” Nhưng nghĩ lại, hẳn nàng cũng chỉ có ý tốt, quan tâm quá hóa rối, khó tránh khỏi chuyện nhỏ cũng làm ầm lên, không thể trách nàng.

Tân Cư Thượng nghe giọng hắn không vui mà chẳng hề tức giận, đặt chén vàng trước mặt hắn, rồi ngồi xuống bên cạnh, lại ân cần dặn dò: “Lúc ăn cơm, đừng nhai bên má trái. Lỡ vết thương rách ra thì lại chảy máu.”

Đây hoàn toàn là kinh nghiệm của nàng. Trước kia lúc luyện kiếm, nàng lỡ cứa vào mu bàn tay, suốt nửa tháng phải giơ tay lên cao, ngay cả gắp đũa cũng đổi sang tay kia. Nhìn gương mặt hắn, càng nhìn nàng càng thấy tiếc. Khó khăn lắm mới dưỡng được nước da trắng trẻo đến vậy, thế mà lại bị kẻ xấu rạch một đường, thật đáng căm hận.

Đương nhiên, với thân phận Thái tử phi, nàng cũng phải quan tâm đến quốc sự: “Ban nãy chàng nói bị tập kích, thiếp không hiểu. Nay xã tắc vững vàng, sao vẫn còn nghịch tặc? Chẳng lẽ là người tiền triều?”

Hắn cúi đầu uống trà, chén vàng dừng trước môi, ánh mắt lại xuyên qua miệng chén nhìn sang, trầm giọng nói: “Thấy tiểu nương tử lo lắng khôn nguôi, rốt cuộc là nhớ đến ta, hay đang lo cho Cao Tồn Ý?”

Tân Cư Thượng vốn quang minh lỗi lạc. Nhắc đến Cao Tồn Ý, nàng chẳng hề có vẻ căng thẳng vì còn vương tình cũ: “Tồn Ý bị giam ở phường Tu Chân, thiếp lo cho hắn làm gì? Thiếp chỉ tò mò, giữa trời đất thanh bình, non sông yên ổn, sao lại có người muốn giết chàng.”

Hắn nhìn sắc mặt nàng một hồi lâu, vẫn không muốn chuyển đề tài khỏi Cao Tồn Ý. Nắm lấy nửa câu trước của nàng như nắm được nhược điểm, hắn nói: “Hai người cũng xem như thanh mai trúc mã, chẳng lẽ nàng không hề lo cho hắn?”

Câu hỏi này hệ trọng vô cùng. Dược Đằng đứng hầu bên cạnh toát mồ hôi lạnh, căng thẳng nhìn tiểu nương tử nhà mình. Nhưng nàng hóa giải chuyện này chẳng tốn chút sức lực: “Lang quân muốn thiếp lo cho hắn, hay không muốn thiếp lo cho hắn? Thiếp nói cho chàng hay, trước khi định thân, chàng đã biết quan hệ giữa thiếp và Tồn Ý. Chàng đã nhận định rồi mới xin trong cung ban chỉ. Đừng đợi Lục lễ xong xuôi lại ôm mãi chuyện này trong lòng, khiến thiếp hiểu lầm chàng hoặc là ghen tuông, hoặc là chẳng có phong độ.”

Quả nhiên, thành thực mới là đòn sát thủ lợi hại nhất. Ánh mắt Lăng Tố chợt lay động, nghiêng người đi, chỉ để lại một góc mặt lạnh lùng cứng rắn: “Cô chưa từng canh cánh trong lòng, chẳng qua chỉ lo tình thế trong triều. Tiểu nương tử đừng tự đa tình.” Nói xong, hắn lại nảy ra nghi vấn mới: “Nàng coi trọng danh hiệu Thái tử phi này chứ? Gả cho Cao Tồn Ý và gả cho cô, có gì khác nhau?”

Cứ “cô” với “cô”, mỗi khi chột dạ, hắn lại đặc biệt thích dùng lối tự xưng nghiêm chỉnh ấy.

Tân Cư Thượng nghĩ ngợi một thoáng, dưới ánh mắt dò xét của hắn, cuối cùng cũng nói được một câu công bằng ra dáng: “Có khác. So với làm Thái tử phi của tiền triều, thiếp vẫn muốn làm Thái tử phi của triều ta hơn. Dẫu sao thiếp và Tồn Ý chỉ có tình nghĩa bạn bè, còn với lang quân, thiếp định làm phu thê.”

Lời này thẳng thắn, chẳng hề che đậy, cũng không biết thẹn. Nhưng lọt vào tai Lăng Tố, lại mang đến một cảm giác huyền diệu khác.

Người biết thức thời quả nhiên chẳng đáng ghét. Tuy hai người nên duyên không phải vì tình, nhưng gạo đã cho vào nồi, chỉ cần quyết tâm nấu chín thì ắt có ngày được ăn.

Thế nhưng hắn vẫn chưa chịu thôi: “Không phải vì tiền triều đã diệt vong, còn triều ta đang như mặt trời ban trưa sao?”

Tân Cư Thượng cảm thấy câu hỏi này quả thực tự tìm mất vui: “Ta là con dân bổn triều. Đại Lịch dưới sự cần chính yêu dân của bệ hạ và lang quân, dân an vật thịnh, ta còn bận lòng chuyện tiền triều, chẳng phải quá không biết điều hay sao!”

Lăng Tố nghe rất vừa lòng, khóe môi thoáng hiện ý cười: “Trước đây bệ hạ nói tiểu nương tử thông tuệ, ta còn chẳng tin.”

Tân Cư Thượng nghe vậy hết sức kinh ngạc, tự động bỏ qua vế sau của hắn: “Bệ hạ từng khen ta sao? Khen ta thông tuệ ư?”

Hắn gật đầu, dáng vẻ cao thâm màkiêu ngạo trì: “Được chọn làm Thái tử phi chẳng dễ dàng. Trong cung phải cân nhắc nhiều phen, sau đó mới chính thức hạ chiếu ban hôn.”

Quả đúng là đạo lý ấy. Tân Cư Thượng nghiêm trang chỉnh lại dáng ngồi: “Ta là người chịu được cân nhắc, ít nhất cũng rất chân thành.” Nàng lại mỉm cười với hắn, “Nhất là đối với lang quân, ta biết gì nói nấy, chưa bao giờ nói dối.”

Lăng Tố thầm nghĩ, đúng vậy, thậm chí chẳng hiểu quanh co, có thể khiến người ta ngã chổng vó. Như chuyện vừa rồi hắn hỏi đến Cao Tồn Ý, vốn tưởng nàng sẽ lựa lời dễ nghe mà qua loa cho xong, nào ngờ nàng chẳng cho hắn cơ hội vin vào đó mà nói thêm nửa lời, cự tuyệt mọi lời biện bạch hoảng hốt cùng những nỗi đoạn trường mềm yếu. Biết rõ chuyện trước kia mà vẫn cố chấp vặn hỏi, vốn đã là tự tìm việc, tuyệt đối không thể dung túng thói xấu này.

Hắn đưa tay day trán, tự thấy vô vị: “Ưu điểm của nương tử, trong cung đều thấy cả. Không chỉ bệ hạ khen nàng, Hoàng hậu điện hạ cũng rất thưởng thức nàng. Có điều hôm nay ta hơi mệt, muốn nghỉ ngơi cho tử tế nửa ngày. Tiểu nương tử nếu không còn việc gì dặn dò, cứ về nghỉ đi.”

Lời này khách sáo quá đỗi, khiến nàng không tiện nhấc bước. Nàng vội đáp lễ một phen: “Ta đưa lang quân lên giường nhé?”

Lăng Tố nói không cần: “Đa tạ ý tốt, ta biết giường ở đâu.”

Tân Cư Thượng cảm thấy cứ thế bỏ mặc một người bị thương, chẳng hỏi han gì, dường như hơi bạc tình. Trong cung đã khen nàng rồi, đã nhận lời khen thì phải làm tốt hơn nữa.

“Lang quân đừng khách sáo, để ta đắp chăn cho chàng.” Nàng nhiệt tình đưa hắn đến trước giường, đưa tay mời hắn nằm xuống.

Lăng Tố rất không quen, uyển chuyển từ chối: “Ta chỉ bị thương nhẹ, không đáng ngại.”

“Đã thấy máu, sao có thể tính là vết thương nhẹ…” Nàng buồn bã lẩm bẩm, rồi lại truy hỏi: “Rốt cuộc tên tặc nhân nào chán sống, dám làm lang quân bị thương?”

Nhớ lại chuyện bị tập kích hôm nay, sắc mặt Lăng Tố trở nên nghiêm nghị. Hắn ra hiệu cho những người đứng hầu lui xuống hết, rồi mới chậm rãi nói: “Tân triều vừa lập, nhìn qua tưởng triều cương vững vàng, thật ra những nơi khuất sáng đều có tính toán riêng. Chẳng hạn như vùng Tỏa Dương thành, trước kia có hùng binh của Tiết độ sứ Qua Châu trấn giữ. Khi đại quân tiến đánh phương Nam, tuy Tiết độ sứ đã quy hàng, nhưng lòng chưa thực sự thuận phục. Triều đình bổ nhiệm Hành quân tư mã cùng Tham mưu, sai họ đến Qua Châu; người còn chưa tới Lương Châu, đã chẳng hiểu vì sao mất tin tức.”

Tân Cư Thượng kinh ngạc: “Tiết độ sứ Qua Châu muốn tự lập làm vương ư?”

Lăng Tố cười nhạt: “Khả năng ấy rất lớn. Đáng tiếc, nay không còn là thời loạn, đâu cho phép bọn họ cát cứ. Non sông vạn dặm này tựa như một chiếc bát, nhiều năm qua đã thủng trăm ngàn lỗ. Chỗ nào vỡ thì hàn chỗ ấy; không thể thu phục bằng cách chiêu hàng, cũng có thể dùng binh mà thống nhất…”

“Lang quân sẽ đích thân xuất chinh sao?”

Nàng bỗng lên tiếng hỏi, khiến lòng Lăng Tố khẽ lay động. Đôi mắt sâu thẳm của hắn nhìn sang: “Sao vậy, nương tử không muốn ta đích thân xuất chinh?”

Tân Cư Thượng đáp: “Quốc gia đại sự, đâu phải một nữ nhi khuê các như ta có thể quyết định, tất cả đều tùy vào quyết sách của bệ hạ. Ta chỉ nghĩ, nếu lang quân đích thân xuất chinh, ta ở lại hành viên cũng chẳng còn ý nghĩa. Trước khi chàng xuất binh, có thể xin cho ta một ân điển, để ta về nhà ở một thời gian được không? Đợi chàng khải hoàn, ta sẽ dọn về hành viên.”

Thì ra bụng dạ tính toán lách cách, tất cả đều vì bản thân nàng?

Lăng Tố tức đến mặt trắng bệch: “Triều đình còn chưa hạ lệnh cho ta thống lĩnh binh mã!”

Giọng hắn hơi cao, khiến Tân Cư Thượng giật mình. Nàng vội nói: “Được được được, ta chỉ thuận miệng nói thôi, lang quân đừng giận.” Rồi thức thời chuyển đề tài: “Kẻ hành thích chàng là nữ tử sao? Hôm ấy dạo chơi về, ta nghĩ kỹ lại vẫn thấy rùng mình. Nếu thích khách giả dạng thành nữ tử ái mộ chàng, giống như nhạc kỹ Quy Tư kia, chẳng phải lang quân sẽ nguy hiểm lắm sao!”

Thì ra phản ứng của nàng quả thật chậm mất nửa nhịp, đến giờ mới nhận ra mối nguy tiềm ẩn. Có thể nghĩ được nhiều đến thế cũng chẳng dễ dàng gì. Lăng Tố nói: “Kẻ ám sát ta không phải nữ tử, mà là một hán tử người Túc Đặc. Hắn mượn cớ trên người có mật thư, dụ ta đến xem. Cũng là ta sơ suất, không ngờ một kẻ trông ốm yếu bệnh tật lại có thân thủ như thế…”

Tân Cư Thượng chẳng mấy bận tâm đến người Túc Đặc kia, vẫn lo lắng cho thành phần hậu cung Đông cung của Thái tử sau này, lẩm bẩm: “Không cùng tộc loại, lòng ắt khác. Xem ra sau này không thể nạp nữ tử dị tộc vào Đông cung, ta phải cân nhắc cho an nguy của lang quân.”

Lăng Tố nói nửa ngày, mới phát hiện nàng nói gà ông nói vịt, đành bất lực bảo: “Gia huấn nhà họ Lăng vốn không cho phép nạp nữ tử dị tộc làm thiếp. Đến đời ta cũng sẽ không phá lệ.”

Tân Cư Thượng gật đầu lia lịa. Tổ tiên quả nhiên nhìn xa trông rộng, biết trước mọi chuyện.

Chỉ vài câu đã khoanh định phạm vi nạp thiếp, đôi bên đều rất hài lòng. Tân Cư Thượng thấy hắn vẫn ngồi đó, lại ân cần hỏi: “Lang quân không nằm xuống sao? Ngủ một giấc, sẽ mau khỏe hơn.”

Hắn liếc nàng: “Tiểu nương tử còn ở đây, ta nằm xuống chẳng phải quá thất lễ sao?”

Tân Cư Thượng thầm nghĩ hắn đúng là giả vờ. Hôm qua dưới gốc tử vi ở Lạc Du Nguyên, vừa chạm tấm nỉ đã nằm tựa xuống, cũng đâu thấy ngượng ngùng gì. Hôm nay bị thương, trái lại còn câu nệ, chẳng lẽ nhảy xuống đầm một phen nên đầu óc vào nước rồi?

Thôi vậy, nơi này không nên nán lại lâu. Nàng thức thời nói: “Lang quân nghỉ ngơi đi, ta về trước đây. Tối đến ta sẽ lại sang thăm chàng.”

Rời khỏi viện phía Đông, nàng vừa đi vừa cảm khái: “Thái tử của tân triều này cũng thật hiểm nguy. May mà thân thủ không tệ, nếu không thì hỏng việc mất.”

Dược Đằng suy nghĩ hồi lâu, cuối cùng cũng kết luận: “Thánh thượng và Hoàng hậu điện hạ nhất định đã thăm dò được tiểu nương tử ngang tàng hơn các quý nữ bình thường, nên mới quyết tâm phong người làm Thái tử phi.”

Từ “ngang tàng” tuy không tao nhã, nhưng cũng khá đúng. Dẫu sao Thái tử phi cũng phải có bản lĩnh tự bảo vệ mình, không thể lúc nào cũng trông chờ Thái tử đến cứu.

Nàng mỉm cười, cảm thấy mình thật xứng với địa vị ấy.

Xuyên qua cánh cửa nhỏ bên tường bao, nàng trở về viện phía Tây. Trong hành viên, năm tháng trôi dài. Buổi trưa trước tiết Trung Thu, ve trên cây vẫn kêu đến khản cả giọng.

Nhà bếp theo lệ sai người mang tới một chén tô sơn, nhưng cũng chuyển lời của Điển thiện lang rằng đây là món nước mát cuối cùng trong mùa hạ năm nay. Qua Trung thu, tiết trời chuyển lạnh, sẽ không cung cấp thức ăn thức uống ướp đá cho nương tử nữa. Tân Cư Thượng buồn bã một hồi. Quả nhiên Điển thiện cục ở Đông cung nghiêm khắc hơn trong nhà nhiều; ở nhà chỉ cần nàng nũng nịu một phen, mẫu thân hết cách, thỉnh thoảng cũng sẽ châm chước cho nàng.

Dù sao đi nữa, cứ hưởng thụ niềm vui trước mắt đã. Nàng múc một thìa đá bào đưa vào miệng, chợt thấy Hầu Nguyệt bước lên bẩm báo, vẻ mặt kỳ quái nói: “Tiểu nương tử, có người cầu kiến.”

Tân Cư Thượng khựng tay, “Ai vậy?”

Giờ nàng đang ở hành viên, ngoài các tỷ muội trong nhà, hẳn sẽ không còn ai tới thăm nàng nữa chứ?

Vẻ mặt Hầu Nguyệt đầy mờ mịt, chỉ ra ngoài, “Chính là Vũ Lăng quận hầu kia… À không, giờ cũng chẳng còn là quận hầu nữa… Dù sao chính là người đó, nói muốn cầu kiến tiểu nương tử.”

Đến Tân Cư Thượng cũng lấy làm lạ, “Hắn tới làm gì?” Nàng chẳng cần nghĩ ngợi đã nói: “Không gặp, bảo hắn về đi.”

Hầu Nguyệt nhận lệnh, lui ra truyền lời cho nữ sử. Chẳng bao lâu sau, nữ sử lại đi vào, nói đối phương kiên quyết rằng nếu Tân nương tử không gặp, hắn sẽ xin cầu kiến Thái tử điện hạ.

Đây là uy hiếp sao? Oán thù với Tân gia, muốn đem đến trước mặt Thái tử ư?

Tân Cư Thượng vô cùng chán ghét cách làm này. Ban đầu nàng đã quyết định không gặp, lúc này lại muốn xem thử rốt cuộc hắn định làm gì.

Nàng khẽ nhấc ngón tay, ra hiệu cho người ta chờ ở sảnh ngoài, rồi đứng dậy đi về tiền viện. Trước khi rời đi, nàng lưu luyến nhìn chén tô sơn trên bàn đá, không quên dặn dò tỳ nữ: “Giúp ta ướp đá, đừng để nó tan.”

Nàng khẽ thở dài, lòng còn đôi phần giận dỗi, vắt dải lụa choàng qua vai rồi xuyên qua sân, tới nơi tiếp khách. Hàn Dục đã đợi ở đó. Thái tử phi chưa tới, hắn không dám ngồi, cứ đứng mãi như vậy, ngóng trông nàng giá lâm.

Tân Cư Thượng nén lòng kiên nhẫn. Thấy hắn vái dài, nàng lạnh nhạt nói: “Hàn lang quân không cần đa lễ. Hôm nay đến cửa, chẳng hay có việc gì?”

Hàn Dục lúc này đã chẳng còn vẻ đắc ý phơi phới như khi còn là quận hầu. Trước kia hắn ngỡ tước vị ấy đã gắn liền với mình; hắn là trưởng tử đích xuất của Hàn gia, trong số hậu duệ của phụ thân, không ai thích hợp kế thừa tước vị hơn hắn. Thậm chí, dù hắn có làm ra vài chuyện quá đáng, hắn cũng có cách thu xếp cho êm thấm.

Đến tận hôm nay, hắn mới rốt cuộc ý thức được, đắc tội với ai cũng đừng đắc tội Tân gia, bởi sau lưng Tân gia có Thái tử chống lưng. Mẫu thân hắn, Trần Quốc phu nhân, vào lúc then chốt đã chọn bảo toàn Hàn gia, quả thật tước bỏ tước vị quận hầu của hắn, hoàn toàn biến hắn thành quân cờ bị vứt bỏ.

Người cởi chuông phải là người buộc chuông. Nay đã không còn đường lui, hắn đành cứng đầu tìm đến hành viên.

Hắn chắp tay, giọng điệu méo mó, bày tỏ nỗi lòng: “Trước đây là ta khinh cuồng, phụ tấm chân tình của nhị nương tử. Giờ nghĩ lại, ta hối hận vô cùng. Ta đã nhận được bài học, càng oán trách bản thân nhất thời hồ đồ. Hôm nay ta đến cầu nương tử rộng lòng dung thứ, xin nương tử cho ta thêm một cơ hội chuộc tội.”

Gương mặt Tân Cư Thượng chẳng buồn để lộ chút cảm xúc nào, nàng nói thẳng: “Thứ ngươi hối hận, chỉ là bị tước mất tước vị mà thôi.”

Hàn Dục thấy nàng chẳng nể nang gì, giận mà không dám nói, khẽ hít một hơi rồi đáp: “Ta cũng không giấu giếm, quả thật vì rơi vào cảnh ngộ này, bất đắc dĩ mới đến cầu nương tử. Hôm ấy ta và nhị nương gặp nhau lần đầu ở Tây Minh tự, nếu sau đó không nảy sinh những chuyện rắc rối kia, hẳn ta đã đến quý phủ cầu thân rồi, đời người cũng chẳng đến nỗi như hiện nay.”

“Vậy hôm nay lang quân không nên đến gặp ta, mà nên đi tạ tội với nhị nương tử mới phải.”

Hàn Dục đáp phải, rồi lại ngập ngừng: “Nhưng nhị nương tử không chịu gặp ta. Ta cũng đã hết đường xoay xở, mới cả gan đến gặp nương tử.”

Thấy chưa, có những chuyện cố chấp, hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì. Biết vậy hôm nay, khi trước hắn đã chẳng nên khăng khăng trước mặt mẫu thân mình rằng đời này không cưới Quả Nhi thì không lấy ai.

Thật ra Tân Cư Thượng rất tò mò: “Lang quân cho rằng nhị nương nhà ta có chỗ nào không xứng với lang quân? Nàng xuất thân danh môn, được dạy dỗ chu đáo, tính tình cũng tốt. Ta vốn tưởng nàng gặp được một vị lang quân không chê vào đâu được, chẳng ngờ lại phải chịu sự lạnh nhạt như thế.”

Lời ấy khiến Hàn Dục đỏ bừng mặt, lúng túng nói: “Nương tử nói quá lời rồi. Không phải nhị nương tử không xứng với ta, mà là ta nhất thời bị ma ám, vì nhiều lần tiếp xúc với Quả Nhi nên dần rối loạn tâm trí. Ban đầu ta không hề muốn như vậy… Ta cũng chưa từng cho rằng Quả Nhi tốt hơn nhị nương tử…”

Tân Cư Thượng đã chẳng muốn nghe nữa, “Đem nhị nương nhà ta so với Quả Nhi, thật là làm nhục nhị nương nhà ta.”

“Phải, phải…” Hàn Dục vội sửa lời, “Quả Nhi sao có thể sánh với nhị nương tử? Là ta không chịu nổi cám dỗ, có lỗi với nhị nương tử. Ta từng nghĩ hay là cứ thẳng thắn thú nhận với nhị nương tử chuyện giữa ta và Quả Nhi, nhưng Quả Nhi không đồng ý. Nàng biết lương tiện không thể kết hôn, huống chi ta còn mang tước vị.”

Tân Cư Thượng không muốn tìm hiểu ân oán tình thù giữa hắn và Quả Nhi, lạnh nhạt nói: “Lần trước đưa Quả Nhi tới quý phủ, người và thân khế đều đã giao cho lang quân. Chỉ cần phóng tịch cho nàng, lang quân có thể cùng nàng bên nhau trọn đời, chẳng phải rất tốt sao?”

Điều không tốt là hắn đã mất tước vị. Danh hiệu Vũ Lăng quận hầu vốn là ân phong của đời đầu tiên; ngoài việc kế thừa tước vị, bản thân hắn không có chức vụ thực tế nào. Một khi tước vị bị thu hồi, hắn liền thành kẻ chẳng có việc gì làm. Nay muốn mưu cầu một chức quan, nhưng nơi nơi đều vấp phải trở ngại, đành phải đến cầu Thái tử và Thái tử phi nương tay, chừa cho hắn một con đường sống.

Đương nhiên, muốn cầu đường sống thì phải có lời giao phó. Hắn vội vàng giãi bày tâm ý: “Ta và Quả Nhi đã đường ai nấy đi rồi. Đại nương tử, phụ bạc nhị nương vốn không phải điều ta mong muốn, nếu không phải vì Quả Nhi…”

Tân Cư Thượng khoát tay, “Không thể nói như vậy. Ta tin lang quân thật lòng đối đãi với Quả Nhi. Hôm ấy yến tiệc ở phủ Triệu vương, chúng ta đều mong lang quân xuất hiện, kết quả lang quân không tới. Có thể thấy lang quân đã từ bỏ cơ hội kết giao với quý nữ, một lòng muốn cùng Quả Nhi có kết cục tốt đẹp.”

Nhắc tới chuyện này, Hàn Dục càng thêm hổ thẹn. Hôm ấy hắn không dự tiệc, Quả Nhi cũng cáo bệnh, không đi cùng nhị nương tử dự tiệc. Hai người họ ở bên ngoài quấn quýt nửa ngày, đợi đoán chừng tiệc ở phủ Triệu vương tan mới mỗi người tự trở về nhà.

Thấy hắn không còn lời nào để nói, trong lòng Tân Cư Thượng cười lạnh một tiếng: “Đã trọng tình trọng nghĩa, cớ sao cuối cùng lại bỏ cuộc? Nếu ngươi một lòng không rời bỏ Quả Nhi, ta còn kính trọng ngươi ba phần. Giờ đây gà bay trứng vỡ, hai bên đều chẳng còn chỗ dựa, hôm nay ngươi đến hành dinh Thái tử gặp ta, hẳn là muốn thử vận may. Đáng tiếc, ta là kẻ bênh vực người mình đến cùng, tuyệt đối không thể nảy lòng từ bi. Nói thật cho ngươi hay, hôm ấy nếu không có người bên cạnh giữ chặt ta, khi vạch trần gian kế của các ngươi, ta nhất định đã đánh cả ngươi. Ta khuyên lang quân mau trở về đi, đừng tự chuốc lấy mất mặt. Còn không chịu đi, thì đừng trách nắm đấm của ta vô tình.”