Chương 131: Thiếu nữ và Long Thần (Một)
◎Trước lúc lâm chung, lão Tống cuối cùng cũng đặt cho nha đầu họ Tống một cái tên.◎
Thần tộc họ Bộ có một món thần khí, tên là Vạn Tượng La Bàn.
Thần khí này có thể tính hết mọi chuyện trong thiên hạ, do người có thiên tư bói toán xuất chúng nhất trong Thần tộc họ Bộ chưởng quản.
Bộ Thời Diên chính là người chưởng bàn đời này.
Từ khi sinh ra, nàng đã có thiên phú bói toán cực kỳ nổi trội. Tuổi còn chưa biết chữ, nàng đã có thể tiện tay lấy đá bày quẻ. Lớn lên theo năm tháng, nàng sớm trở thành tồn tại khiến người trong Thần tộc họ Bộ chẳng thể nào với tới.
Năm tròn một trăm tuổi, Bộ Thời Diên vượt qua thiên kiếp, thành công thăng thần. Dưới sự chứng kiến của Thần Đế Yến Tinh Trĩ, tộc vương họ Bộ truyền Vạn Tượng La Bàn cho nàng. Từ đó, nàng chịu trách nhiệm tính toán cát hung của Lục giới và mệnh cách của người trong thiên hạ.
Bộ Thời Diên hiếm khi khởi quẻ. Nàng dốc lòng nghiên cứu thần pháp bói toán, năm một trăm bảy mươi tuổi thì lập quẻ Thiên Vận, tính ra nhân thần sắp sửa giáng thế, khí vận của nhân tộc sẽ bước vào thời kỳ hưng thịnh.
Nàng hăm hở báo quẻ này cho tộc nhân. Thế nhưng mọi người đều biết, nhân tộc đã gần vạn năm không có phàm nhân nào phi thăng. Nếu nhân gian xuất hiện người ấy, ắt sẽ có vảy vàng ngợp trời, trời đất dị động, điềm lành lớn hiện ra. Song chẳng một ai trong Thần tộc họ Bộ quan sát được điềm tượng ấy ở nhân giới, đương nhiên sẽ chẳng tin vào quẻ của nàng.
Huống chi, thiên thê đã đứt, phàm nhân muốn phi thăng thành tiên đã muôn vàn gian khó, nói gì đến chuyện thành thần. Ai nấy đều cho rằng đó là chuyện hoang đường, không thể nào xảy ra.
Bộ Thời Diên nổi danh từ thuở thiếu thời, khó tránh khỏi có phần kiêu ngạo. Trong lòng bất phục, nàng khăng khăng cho rằng quẻ của mình không thể sai.
Về sau, trong yến tiệc của chúng thần, có người lại nhắc đến chuyện này, lấy đó làm trò cười nàng. Bộ Thời Diên uống nhiều rượu, nhất thời nổi nóng, bèn lấy Vạn Tượng La Bàn ra, lập quẻ ngay trước mặt tất cả mọi người.
Quẻ này tính ra vị phàm nhân thành thần ấy sẽ xuất hiện ở Nam Cảnh nhân giới, tại một nơi tên là Nam Diên. Nơi đó có một thung lũng đã tồn tại từ ngàn vạn năm trước.
Tương truyền, sau khi trận chiến biến động Lục giới năm xưa kết thúc, Long Thần đã đến thung lũng ấy, rồi chẳng thể rời đi nữa, cứ thế ngủ say trong đó suốt ngàn vạn năm. Vì vậy, người trong Lục giới gọi nơi ấy là Long Tức Cốc.
Quẻ của Bộ Thời Diên lập tức gây chấn động ba giới bên trên, tin tức nhanh chóng truyền ra ngoài.
Đợi nàng ngủ một giấc, tỉnh rượu rồi mới nhận ra có lẽ mình đã gây ra họa lớn. Nàng bèn xin từ chức với Thần Đế, rồi đi đến nhân gian.
Nhưng thiên thê đã đứt từ nhiều năm trước, ba giới bên trên không thể đi thẳng đến nhân gian. Nàng đành phải vòng qua Yêu tộc, tìm kiếm vị phàm nhân thành thần kia.
Ở biên cảnh Nam Diên có một thung lũng cao chót vót tận mây xanh, kéo dài mấy trăm dặm, trông như một con rồng khổng lồ cuộn mình nằm phục.
Trên núi cây cối xanh um, hoa cỏ sum suê. Dòng suối từ thác nước trên đỉnh núi đổ ào xuống, tụ lại dưới chân núi, hóa thành vô số con sông lớn nhỏ, nhờ đó nuôi sống biết bao phàm nhân.
Thợ săn lão Tống vào núi săn bắn, nhặt được một bé gái dưới chân núi, bèn đưa về nhà.
Ban đầu, lão Tống và những người khác trong thôn đều chỉ gọi nàng là nha đầu họ Tống. Khi ấy nàng chừng sáu, bảy tuổi, lúc nào cũng thích chạy đến bờ sông nhỏ nơi mình được nhặt về chơi. Mỗi lần lão Tống từ trên núi xuống, gọi nàng một tiếng, nàng liền vỗ vỗ lớp bùn đất đã khô trên tay, bước đôi chân ngắn lon ton theo sau ông.
Năm lên chín tuổi, lão Tống bị dã thú trên núi cắn, bụng bị móc ra một cái lỗ lớn, cả người đẫm máu được người ta khiêng xuống.
Nha đầu họ Tống sợ đến phát khóc, bò lên người lão Tống, hết tiếng này đến tiếng khác gọi cha.
Ông cố gắng hé mắt, nắm tay nàng nói: “Lúc nhặt được con, con nằm trong một cái giỏ, trôi lềnh bềnh trên sông. Cứ thế xuôi theo dòng nước về phía trước. Cha đuổi theo cả một quãng đường mới nhặt được con về.”
“Lúc vớt con lên, cha mới phát hiện thứ đựng con lại là một cái giỏ trúc. Từ đó về sau, cha vẫn luôn nghĩ con là tiểu tiên sông nhỏ, xuống nhân gian chúng ta chơi đấy.”
“Sau này, con cứ gọi là Tống Tiểu Hà nhé.”
Trước lúc lâm chung, lão Tống cuối cùng cũng đặt cho nha đầu họ Tống một cái tên.
Ông còn đưa cho nàng một chuỗi hạt đeo có tua rua ba màu, nói rằng khi nhặt được nàng, món đồ ấy đã đeo trên người nàng rồi.
Từ đó về sau, Tống Tiểu Hà bắt đầu ăn cơm nhà bá tánh.
Người trong thôn vốn đã thật thà lương thiện, lại vì những lời lão Tống nói trước lúc lâm chung mà cho rằng nàng quả thật là tiểu tiên sông nhỏ xuống nhân gian chơi đùa. Bởi vậy, ai nấy đều hết lòng chăm sóc nàng. Bao năm tháng xuân hạ thu đông trôi qua, chưa từng để nàng phải chịu đói một lần, cũng chưa từng để nàng phải chịu rét một lần.
Tống Tiểu Hà càng lớn càng xinh đẹp, khác hẳn tất cả mọi người trong thôn.
Nàng mặc áo váy giản dị, mái tóc dài tùy tiện tết thành bím nhỏ, trên cổ lúc nào cũng đeo chuỗi hạt tua rua ba màu ấy. Ngoài ra chẳng có món trang sức tinh xảo nào khác, đôi mắt long lanh như nước lúc nào cũng mang ý cười, ai trông thấy cũng phải khen một câu xinh đẹp.
Người trong thôn đều yêu quý nàng. Mỗi năm đổi mùa, thím ở phía đông, tỷ tỷ ở phía tây đều mang quần áo đến nơi nàng ở. Quần áo không phải mua, mà là chính tay họ may.
Năm Tống Tiểu Hà mười sáu tuổi, trong thôn có một ông lão ngoài bốn mươi, chân đi khập khiễng tìm đến.
Nghe nói thuở trẻ ông từng đỗ tú tài, nhưng sau đó thi cử bao nhiêu năm cũng chẳng đạt được công danh gì. Có lần leo núi, ông lại ngã gãy chân. Để nuôi sống gia đình, ông tự học được chút bản lĩnh bói toán, đi khắp nơi xem mệnh cho người ta kiếm miếng ăn.
Ông cầm la bàn đến ngôi làng này, nói với mọi người rằng tai họa lớn sắp giáng xuống thôn, ông đến để hóa giải tai ương cho mọi người.
Nhưng ai mà tin một lão già què chân chứ?
Người trong thôn không đuổi ông đi, trái lại còn đưa thức ăn và nước uống, khuyên ông tự rời khỏi đây.
Lão già ấy ở lì ngoài đầu thôn không chịu đi. Dân làng cũng chẳng ai để ý đến ông, chỉ có Tống Tiểu Hà mỗi lần qua lại mới trò chuyện với ông đôi câu.
Qua lại đôi lần, hai người dần trở nên thân thuộc.
Tống Tiểu Hà biết lão già kia họ Vương, tên Vương Tịnh Thiên. Thuở trẻ ông có một người vợ, đã bỏ đi, có một đứa con trai, đã chết. Sau khi đau lòng, ông bỏ quê nhà tha phương, từ đó lang bạt khắp nơi.
Ông ngồi ngoài đầu thôn, dùng cành cây dạy Tống Tiểu Hà nhận chữ, rồi xin nàng chia cho một miếng ăn.
Vương Tịnh Thiên ở lì ngoài đầu thôn suốt ba tháng. Nhờ chút thức ăn Tống Tiểu Hà để lọt ra bên miệng và đồ bố thí của những người khác trong thôn, cuối cùng ông cũng không chết đói.
Sau đó, dân làng bắt đầu nhận ra có chuyện gì đó không ổn.
Suốt ba tháng liền không có lấy một trận mưa. Đúng lúc lúa mì đang sinh trưởng, trời chẳng đổ giọt nước nào, nắng gắt như thiêu như đốt, rất nhiều mầm lúa đã có dấu hiệu khô héo.
Ban đầu, mọi người tưởng tình hình chỉ tạm thời, bèn ra bờ sông gánh nước về tưới cho lúa non.
Nhưng nước xa không cứu được lửa gần. Lúa non trong thôn bắt đầu khô héo trên diện rộng, thiếu nước tưới tắm thì không thể lớn lên; cứ tiếp tục như vậy, e rằng sẽ mất mùa trắng tay.
Lúc này, mọi người mới nhận ra lời Vương Bỉnh Thiên nói không phải lời bịa đặt, đại hạn sắp giáng xuống — đây quả là tai họa kinh thiên đối với họ.
Sau mấy tháng làm ăn mày, cuối cùng Vương Bỉnh Thiên cũng được mọi người cung kính mời vào nhà. Hỏi han một hồi, họ mới biết trận đại hạn này sẽ kéo dài hai năm. Cách duy nhất để hóa giải là đợi đến đêm rằm tháng Tám hai năm sau, tổ chức một buổi tế Long Thần, cầu xin Long Thần thương xót nhân gian, ban mưa xuống.
Mà khâu quan trọng nhất trong lễ tế Long Thần chính là chọn những nam nữ chưa kết hôn, cùng nhau nhảy điệu múa cầu thần. Có như vậy, nỗi khổ nạn của thế gian mới truyền tới được Long Thần.
Đại hạn đã cận kề, dân làng đành phải tin, vội tìm những nam nữ chưa thành thân trong thôn. Điệu múa cầu thần này phải tập suốt hai năm, người đã đến tuổi lấy vợ gả chồng thì không thể được chọn, mà đứa bé quá nhỏ tuổi cũng không được.
Thôn vốn chẳng có bao nhiêu người, chọn tới chọn lui, vậy mà chỉ được mười bốn người: chín bé trai, năm bé gái.
Vương Bỉnh Thiên bấm đốt ngón tay tính toán, bảo vẫn chưa đủ, phải thêm một bé gái nữa.
Tống Tiểu Hà đứng bên cạnh xem náo nhiệt, miệng nhồm nhoàm quả đỏ mọng, nước quả dính đầy quanh môi. Nghe vậy, nàng nghĩ bụng mình cũng chưa kết hôn mà, bèn xung phong gia nhập đội ngũ tế thần.
Điệu múa cầu thần ấy tập gần tròn hai năm. Trong khoảng thời gian đó, nơi này không có lấy một trận mưa. Mặt đất nứt nẻ, để lại những vết rạn ghê người, khắp nơi đều là cảnh khô cằn điêu tàn.
May mà dân làng chăm chỉ làm lụng, lại có con sông gần đó dồi dào nước. Mọi người đồng lòng góp sức, cũng trồng trọt được chút lương thực. Gần hai năm nay tuy thu hoạch chẳng đáng là bao, nhưng may sao trước đó còn để dành được không ít lương thực; phần lớn đàn ông vào núi săn bắn, mọi người nâng đỡ, giúp đần lẫn nhau, cuối cùng cũng không ai chết đói.
Qua Tết Nguyên Đán, ai nấy đều mong ngóng, chỉ ước rằm tháng Tám mau mau đến.
Ngày rằm tháng Giêng, Tống Tiểu Hà mặc áo bông dày cộp, rụt cổ vào trong cổ áo rồi đi ra khỏi thôn.
“Tiểu Hà!” Vương Bỉnh Thiên gọi nàng. “Con đi đâu đấy?”
Tống Tiểu Hà quay đầu, lớn tiếng đáp: “Con vào thành! Hôm nay là Tết Thượng Nguyên, nhà giàu trong thành sẽ mời gánh hát đến diễn, con đi xem!”
Vương Bỉnh Thiên dặn: “Về sớm một chút, cẩn thận đi đêm gặp phải yêu quái.”
Tống Tiểu Hà cười hì hì: “Tiên sinh, trên đời này thật sự có yêu quái ạ?”
Vương Bỉnh Thiên nói: “Ta lừa con làm gì?”
Tống Tiểu Hà lắc đầu, không nói thêm gì nữa, quay người đi.
Vương Bỉnh Thiên nhìn bóng nàng dần khuất xa, nụ cười nơi khóe miệng hơi nhạt đi. Sau đó, ông lấy từ trong ngực ra hai tờ giấy, gấp rồi xé, tạo thành hình hai người giấy. Ông cắn ngón tay, chấm một giọt máu lên mỗi người giấy, miệng lẩm nhẩm câu gì đó.
Ông phất tay một cái, hai người giấy liền biến mất.
Bên rìa thành Từ Xuân có một sân khấu lớn, mỗi dịp lễ tết đều mở màn biểu diễn. Bên dưới sân khấu chật kín chỗ ngồi, xung quanh cũng đứng chen chúc, năm nào Tống Tiểu Hà cũng đến xem, con đường này nàng đã thuộc lòng từ lâu.
Nàng ra khỏi thôn, đi về phía bắc một quãng thì chợt có con hồ ly nhỏ lông vàng nhảy ra bên đường. Nó phe phẩy chiếc đuôi xù, nhảy nhót theo sát bên chân nàng.
Con hồ ly ấy không lớn, nhưng bộ lông toàn thân bóng mượt, đẹp đẽ, dường như không lẫn một sợi tạp sắc. Nếu để thợ săn nhìn thấy, nhất định sẽ trợn tròn mắt, bất kể thế nào cũng không chịu buông tha bộ da hồ ly tuyệt đẹp ấy.
Thế nhưng con hồ ly lại thân thiết với Tống Tiểu Hà lắm, cứ cọ cọ bên chân nàng.
Tống Tiểu Hà chìa tay ra. Trong lòng bàn tay nàng nắm một miếng vải rách bọc mấy miếng thịt khô.
Nàng ngồi xổm xuống, đưa thịt khô tới bên miệng hồ ly. Con hồ ly nhỏ bèn há miệng, cẩn thận ngậm lấy miếng thịt từ kẽ tay nàng rồi ăn.
Tống Tiểu Hà đã nuôi con hồ ly nhỏ này được sáu năm. Từ ngày nàng có thể tự mình vào thành chơi, nàng đã gặp nó; từ đó về sau, mỗi lần nàng vào thành xem hát, hồ ly nhỏ đều đi theo.
Đôi khi nàng mang theo thứ gì đó, cũng sẽ chia cho hồ ly ăn cùng.
Ăn hết thịt khô, một người một hồ tiếp tục lên đường, đến bên rìa thành Từ Xuân. Tống Tiểu Hà ôm hồ ly nhỏ, dùng áo bọc nó lại rồi chen được một chỗ quanh sân khấu. Nào ngờ hôm nay lại gặp chuyện ngoài ý muốn, gánh hát đến muộn hẳn một canh giờ.
Tống Tiểu Hà chờ bên dưới sân khấu đã lâu. Nàng đoán nếu xem hết buổi diễn này thì lúc về trời sẽ tối mất; muốn về nhà trước khi trời tối, nàng chỉ có thể xem một nửa.
Nhưng đào kép trên sân khấu hát lên xuống ngân nga, tiếng chiêng trống vang trời, bên dưới người xem liên tiếp vỗ tay reo hò.
Tống Tiểu Hà nổi hứng ham vui, chân chẳng nhấc nổi, không muốn về nữa.
Thật ra Tống Tiểu Hà cũng chẳng hiểu trên sân khấu đang hát chuyện gì, chỉ cảm thấy nơi này náo nhiệt, thú vị.
Nàng thấy áo quần của đào kép trên sân khấu đẹp đẽ, lớp phấn son trên mặt cũng lộng lẫy, bèn cúi đầu hỏi hồ ly nhỏ trong lòng: “Ngươi cũng thấy vậy phải không? Nếu không thì sao lần nào ngươi cũng theo ta tới xem hát, đúng chứ?”
Một buổi diễn kết thúc, sắc trời đã gần tối.
Mùa xuân ở Nam Diên kéo dài, nhưng xuân đến muộn; khi đã vào tháng Ba, nơi đây vẫn còn tuyết rơi.
Tống Tiểu Hà khoanh tay, rụt cổ đi giữa trời tuyết. Nàng vốn muốn về nhà trước khi trời tối, nhưng mùa đông trời tối sớm, đi chưa được bao lâu thì trời đã tối mịt.
Trên bầu trời đêm treo một vầng trăng tròn, ánh trăng soi sáng mặt đất; chẳng cần thắp đèn, nàng vẫn nhìn rõ con đường phía trước.
Tống Tiểu Hà đang đi thì cúi đầu nhìn, phát hiện con hồ ly nhỏ lông vàng đi bên cạnh lúc này lại khoác một thân lông trắng như tuyết, trông chẳng khác nào vừa bị mất màu.
Nàng không nhịn được bật cười, cúi xuống bế hồ ly lên, hỏi: “Sao cứ đến ngày trăng tròn là ngươi lại biến thành thế này? Trăng tròn có ý nghĩa đặc biệt gì với ngươi à?”
Hồ ly nhỏ không trả lời, chỉ mở mắt nhìn nàng.
Tống Tiểu Hà vẫn luôn gọi nó là hồ ly nhỏ, cũng giống như khi nàng còn bé, lão Tống và những người khác trong thôn đều gọi nàng là con bé họ Tống vậy.
Nghĩ lại, giờ nàng đã có tên, vậy con hồ ly nhỏ được mình nuôi nấng này cũng nên có một cái tên mới phải lẽ.
“Sau này ngươi gọi là Mãn Nguyệt nhé?” Tống Tiểu Hà nói. “Hoa đẹp trăng tròn, nghe may mắn.”
Nàng trò chuyện với con hồ ly không biết nói này một lúc, rồi cảm thấy gió lạnh quất vào mặt, dứt khoát ngậm miệng lại.
Nói ra cũng lạ, đường từ Từ Xuân đến thôn nàng chẳng xa là bao. Trước kia đi chừng hai khắc là tới nơi, hôm nay chẳng hiểu sao đã đi nửa canh giờ mà vẫn chưa thấy bóng dáng thôn xóm đâu.
Tống Tiểu Hà đang thầm nghi hoặc thì chợt nghe tiếng bước chân truyền đến từ phía sau.
Bốn phía đều là đồng hoang trống trải. Mấy năm nay nàng đã đi con đường này không biết bao nhiêu lần, hiếm khi gặp người đi cùng, huống chi trên mặt đất còn phủ tuyết. Chính nàng đi đường cũng chẳng phát ra tiếng động gì, sao lại có thể nghe thấy tiếng bước chân phía sau?!
Nàng giật thót trong lòng, vẫn giữ nguyên tốc độ, lặng lẽ dựng tai lắng nghe phía sau.
Lần này nàng nghe rõ hơn, đúng là tiếng bước chân.
Đây là lần đầu tiên nàng đi đường ban đêm mà gặp chuyện thế này, nhất thời sợ đến không nhẹ, cũng chẳng dám ngoảnh đầu nhìn, vội vã bước nhanh hơn, định bỏ lại kẻ phía sau.
Gió lạnh gào thét, quất vào mặt Tống Tiểu Hà đau rát. Dù nàng đi nhanh đến đâu, tiếng bước chân kia vẫn bám riết không buông, hết sức quỷ dị.
Đi thêm một đoạn, cuối cùng Tống Tiểu Hà không nhịn được, lén ngoái đầu nhìn một cái.
Cái nhìn ấy khiến nàng kinh hồn bạt vía! Kẻ đang theo sau nàng nào phải người?
Nó không cao lớn, chỉ chừng nửa thân người, miễn cưỡng có hình dáng con người; khuôn mặt lại chẳng có ngũ quan, chỉ là một lớp da trơn tuột!
Tống Tiểu Hà sợ đến nỗi hét một tiếng vỡ giọng, rú lên, mồ hôi lạnh toát khắp người, hai chân chạy như bay về phía trước.
Khoảnh khắc này, nàng hận không thể mọc ra tám cái chân, lại vô cùng hối hận vì mình ham chơi; đáng lẽ xem được nửa buổi thì nên đi rồi!
Yêu quái phía sau phát ra một tiếng rít chói tai khó nghe, nhanh chóng bám sát, vươn đôi vuốt sắc nhọn chộp thẳng vào lưng Tống Tiểu Hà.
Nàng chạy quá nhanh, con hồ ly nhỏ trong lòng bỗng nhảy khỏi khuỷu tay nàng, đạp lên vai nàng một cái rồi lao về phía yêu tà phía sau.
Tống Tiểu Hà hoảng hốt kêu lên: “Mãn Nguyệt!” Chớp mắt, nàng đã trông thấy phía trước cũng có một con quái vật y hệt đang nhanh chóng áp sát.
Nàng vội vàng thắng gấp, lập tức đổi hướng, chẳng kịp nghĩ ngợi gì nhiều. Trong đầu nàng lúc này chỉ có một ý niệm: chạy trốn, bỏ lại hai con yêu tà kia rồi tính!
Tống Tiểu Hà cắm đầu chạy về phía trước, không để ý đã bước vào địa giới sơn cốc. Tiếng rít phía sau bỗng dưng tắt ngấm.
Nàng chạy thêm mấy trượng, rốt cuộc kiệt sức, vừa hít thở, phổi đã đau như muốn nổ tung, hai chân cũng mềm nhũn. Cho dù con yêu quái kia có cưỡi lên đầu nàng, nàng cũng chẳng bước nổi thêm một bước.
Nàng dựa vào cây thở dốc, ngoảnh đầu nhìn lại, thấy hai con yêu quái kia thế mà dừng lại ở nơi rất xa, đi đi lại lại, hệt như đang sợ thứ gì, không dám đến gần nơi này.
Nhờ vậy, Tống Tiểu Hà mới nhặt lại được cái mạng.
Nàng ngồi trên đất nghỉ ngơi hồi lâu. Thấy hai con yêu quái kia quả thực không dám vào, chỉ cam lòng đứng canh ở bên ngoài, dường như đang đợi nàng bước ra, Tống Tiểu Hà nào có ngốc đến thế. Khôi phục được chút sức lực, nàng vội vàng đi sâu vào trong.
Dãy sơn cốc kéo dài liên miên này xưa nay được dân chúng quanh vùng gọi là đất lành, nuôi sống biết bao người.
Thợ săn thường lên núi săn bắn, nhưng không vào sâu trong núi, bởi nơi đó có mãnh thú vô cùng hung dữ, hơn nữa một khi lạc đường trong núi thì về cơ bản chỉ còn đường chết.
Tống Tiểu Hà chưa từng lên núi, không biết những chuyện ấy. Để tránh con yêu quái phía sau, nàng cứ thế cắm đầu đi về phía trước.
Tuyết trắng phủ kín mặt đất, bốn phía chỉ thấy ánh trăng, chẳng nhìn thấy bất kỳ sinh vật nào còn sống.
Vừa rồi Tống Tiểu Hà bị dọa cho khiếp vía, lại chạy như điên suốt một quãng đường dài, mồ hôi nóng đổ khắp người. Lúc này bình tĩnh lại, gió thổi qua khiến nàng lạnh run, vội ôm chặt hai cánh tay, rụt cổ bước đi.
Thật ra nàng không sợ lạc đường.
Bởi khi còn nhỏ, lão Tống Đầu từng nói với nàng, những dòng sông dưới chân núi đều do nước từ trên núi chảy xuống rồi tụ lại mà thành. Chỉ cần tìm được dòng suối đang chảy, nàng sẽ có thể men theo dòng nước tìm đường xuống núi.
Từ nhỏ nàng đã tai thính mắt tinh. Nàng đi trong núi vắng lặng, tìm kiếm tiếng nước chảy róc rách.
Tống Tiểu Hà vẫn còn hoảng sợ, hai chân mềm nhũn, đi được một đoạn lại phải nghỉ một lúc. Nàng quanh quẩn trong ngọn núi tĩnh mịch như cõi chết, cuối cùng không kìm được mà bật khóc, vừa lau nước mắt vừa tìm đường.
Nàng cũng chẳng biết vì sao mình lại xui xẻo đến vậy, cứ thế đụng phải yêu tà này. May mà chúng không dám vào núi, bằng không…
Tống Tiểu Hà chẳng dám nghĩ kết cục của mình sẽ ra sao.
“Có một vở kịch rách thì hay ho gì mà xem!”
Nàng tức giận trách móc bản thân. Nước mắt vừa chảy xuống đã bị gió lạnh thổi buốt, nàng chỉ có thể mau chóng lau đi, dụi đến mức hai mắt đỏ hoe.
Đang khóc thương tâm, bỗng có tiếng nước truyền vào tai nàng.
Tống Tiểu Hà mừng rỡ khôn xiết, vội men theo tiếng nước tìm đến, nào ngờ thứ nàng tìm được không phải dòng sông đang chảy, mà là một vũng nước suối.
Tống Tiểu Hà chầm chậm tiến lại gần, trông thấy mặt nước gợn từng vòng sóng. Trăng sáng soi bóng xuống bên trên, vỡ thành vô số mảnh, tựa như những điểm tô rơi trên dòng suối, ánh nước lấp lánh.
Nàng không khỏi thắc mắc, nghĩ bụng sao mặt nước lại gợn sóng dữ dội đến vậy? Rõ ràng tiếng nước nàng nghe thấy ban nãy là phát ra từ nơi này mà…
Nàng trợn mắt nhìn. Mặt nước dần yên bình trở lại, xung quanh cũng chẳng còn tiếng động nào khác.
Ngay lúc nàng xoay người định đi, bỗng có một người chầm chậm nổi lên từ giữa mặt nước.
“Á!”
Tống Tiểu Hà hét lên kinh hãi, hai chân mềm nhũn, lập tức ngã nhào xuống đất.
Lần này, chân nàng thật sự mềm như bún, hoàn toàn chẳng chạy nổi nữa. Nàng trợn tròn mắt, nhìn chằm chằm người đang nổi lên khỏi mặt nước.
Hắn như thể giẫm lên đáy suối mà đứng dậy. Nước chẳng để lại chút dấu vết nào trên người hắn, ào ào đổ xuống mặt nước, vang lên một tràng âm thanh trong trẻo.
Hắn nghe thấy tiếng hét kinh hãi của Tống Tiểu Hà, dường như vô tình ngoảnh lại. Đôi mắt nhạt màu, không gợn sóng rơi trên người nàng.
Dưới ánh trăng sáng, mái tóc dài của hắn như mực đổ xuống thân mình; làn da trên người còn trắng hơn tuyết ba phần, đó là sắc da tuyệt đối không thể xuất hiện ở phàm nhân.
Hắn tựa như một nắm tuyết trắng tinh khôi nhất giữa ngày đông, đẹp đến mức thế gian không ai sánh nổi. Nốt chu sa giữa hai hàng lông mày càng tôn lên vẻ thần tính nơi hắn, tựa vị thần minh lạc bước chốn phàm trần.
Dòng nước xuôi theo lồng ngực trần trụi của hắn chảy xuống, chìm vào mặt nước ngang eo. Mái tóc đen buông dài, bồng bềnh trong nước.
Đây tuyệt đối không phải con người.
Tuy Tống Tiểu Hà kinh hoàng luống cuống, nàng vẫn nhìn rõ mồn một: dưới ánh trăng sáng trong, người dưới nước có một đôi sừng nhọn màu đen, cùng một đôi mắt vàng.
Khoảnh khắc chạm phải ánh mắt ấy, Tống Tiểu Hà giật thót mình, rồi chợt mở bừng mắt, tỉnh khỏi giấc mộng.
Nàng nhìn kỹ mới hay trời đã sáng.
Thì ra nàng ngồi tựa bên cây mà ngủ thiếp đi mất.
Lời tác giả:
Cảm ơn các bé cưng đã động viên và ủng hộ~
Từ hôm nay bắt đầu đăng ngoại truyện nhé, ta cũng không biết có thể viết được bao nhiêu chữ, còn phải xem nội dung nhiều hay ít.
——————————————
Bị Vô Tình Đạo Tiểu Sư Đệ Truy Ngược