Bị Vô Tình Đạo Tiểu Sư Đệ Truy Ngược

Chương 127: Thư nhà quý hơn vạn vàng (hai)

Chương 127: Thư nhà đáng giá ngàn vàng (hai)

Năm Sùng Khánh thứ bốn mươi tám, tháng tư.

Mùa xuân ở Nam Diên kéo dài hơn hẳn mọi nơi. Đã sang tháng năm mà thời tiết vẫn mát mẻ, trăm hoa trong thành đua nhau khoe sắc, khắp chốn tràn đầy sức sống.

Chiến hỏa bùng lên nơi biên cảnh, thỉnh thoảng lại có nạn dân phiêu bạt, chạy trốn vào thành Từ Xuân, mong tìm được một nơi yên ổn để nương thân.

Vân Trần trấn thủ thành Từ Xuân đã mấy năm, từ lâu trở thành vị tướng quân được bách tính kính yêu. Bởi vậy, khi nàng hạ lệnh mở cổng thành tiếp nhận nạn dân, trong thành chẳng một ai dị nghị.

Người có tiền góp tiền, kẻ có sức góp sức. Nhà tế dân được dựng lên ngay bên cổng thành. A Trúc quyên góp rất nhiều bạc, giúp những nạn dân chạy nạn đến đây có một nơi tạm thời yên ổn mà ngủ.

Lúc rảnh rỗi không có việc gì làm, nàng bèn đến cổng thành xem xét tình hình.

Qua đôi mắt của A Trúc, Tống Tiểu Hà được nhìn thấy thành Từ Xuân chưa bị chiến tranh tàn phá.

Thành này dựa núi mà dựng. Bên ngoài tường thành là những dãy núi cao sừng sững nối tiếp nhau, cây cối trên núi xanh um, nhìn từ xa chỉ thấy một màu xanh mướt, thỉnh thoảng gió mát lại thổi tới.

Trong thành cũng có hoa nở khắp nơi. Bách tính an cư lạc nghiệp, đi ngang những khóm hoa rực rỡ, đôi lúc sẽ dừng chân ngắm nghía, nhưng hiếm khi hái hoa, tạo nên khung cảnh yên bình, an hòa.

Thành này không thể gọi là phồn hoa, nhưng có tường thành cao lớn che chở, bách tính trong thành lại lương thiện chất phác. Để đón tiếp nạn dân, mọi người đã góp sức rất nhiều. Chỉ cần nhìn vào vài chuyện nhỏ nhặt chẳng đáng là bao cũng đủ thấy được phẩm chất lương thiện, chất phác của họ, tựa như chốn đào nguyên cách biệt với đời.

A Trúc đứng bên thành, nhìn những người dân đang chung tay dựng nhà tế dân.

Nạn dân chạy nạn đến đây ai nấy đều nhếch nhác thảm hại, quần áo rách rưới, tóc tai bù xù, mặt mũi lấm lem, đang xếp hàng nhận màn thầu và cháo.

“Các vị cứ yên tâm.” Người phụ nữ múc cháo nói với một nạn dân vừa khóc vừa nhận màn thầu: “Trong thành chúng ta có tướng quân Vân trấn giữ. Bọn địch mà dám tới, nhất định sẽ khiến chúng có đi mà không có về!”

“Đúng vậy, hơn nữa tướng quân Vân đã nói, chẳng bao lâu nữa hoàng đế sẽ tăng viện binh. Đợi viện binh của chúng ta tới, nhất định sẽ đánh trả, đoạt lại đất đai bị quân địch chiếm mất!”

“Đánh cho chúng tan tác, sau này chẳng dám đặt chân vào Nam Diên dù chỉ một bước!”

Đàn ông dựng nhà, phụ nữ múc cháo an ủi, họ vỗ về những nạn dân phải phiêu bạt, vợ con ly tán ấy hết sức chu đáo.

Tống Tiểu Hà thu hết cảnh tượng này vào mắt. Nghe những lời họ nói, nàng có cảm giác như một tảng đá nặng nề đè chặt lên tim, gần như khiến nàng không thở nổi.

Vân Trần đã bảo vệ người dân thành Từ Xuân rất tốt. Dẫu bên ngoài khói lửa ngút trời, thi thể chất đầy mặt đất, lưỡi đao sắc bén của quân địch nhuốm máu con dân Nam Diên, bách tính thành Từ Xuân vẫn tin rằng mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp, tin rằng viện binh sẽ đến, tin rằng Vân Trần sẽ dẫn quân đánh lui quân xâm lược.

Nhưng Tống Tiểu Hà đã tận mắt chứng kiến cổng thành đổ nát, thi thể la liệt khắp nơi, từ lâu đã biết kết cục của họ.

Chờ đợi thành Từ Xuân, ắt sẽ là một cuộc tàn sát thảm khốc đến tận cùng.

Tống Tiểu Hà nảy sinh ý kháng cự, nàng không muốn nhìn tiếp nữa, bèn thúc giục linh lực, muốn thoát khỏi người A Trúc.

Thế nhưng nàng như bị thứ gì đó nhốt trong cơ thể A Trúc, thử hồi lâu vẫn không thể dùng linh lực thoát ra. Đúng lúc nàng đang bực bội, phía sau chợt vang lên giọng nói non nớt.

“A Trúc!”

Ngay sau đó, eo nàng bị va phải, hai cánh tay nhỏ nhắn ôm lấy nàng.

A Trúc vừa quay người, Tống Tiểu Hà liền trông thấy người ôm nàng là một bé gái chừng bảy, tám tuổi. Bên cạnh cô bé còn có một bé trai, hai đứa cao xấp xỉ nhau, đường nét gương mặt cũng có vài phần giống nhau, nom như anh em một nhà.

“A Trúc, mấy ngày nay tỷ chẳng đến chơi với bọn muội.” Bé trai nói.

Giọng nói xuyên qua tai, Tống Tiểu Hà giật mình một cái, nhìn kỹ lại mới nhận ra hai đứa trẻ trước mặt chính là hai đứa từng chặn đường nàng trong thành, miệng cứ gọi nàng là A Trúc.

A Trúc có quan hệ rất tốt với chúng, lập tức chơi đùa cùng hai đứa. Ba người đá cầu một lúc, sau đó hai đứa trẻ trốn đi, để A Trúc đi tìm.

Qua lúc chơi đùa, Tống Tiểu Hà biết đây là một đôi anh em. Bé trai tên Trường Hàn, bé gái tên Ngọc Tâm. Cha mẹ hai đứa đã mất từ sớm vì bệnh, chúng được dì nuôi nấng khôn lớn. Năm ngoái dì chúng cũng qua đời, không còn người thân nào khác, hiện giờ chẳng có ai nuôi dưỡng.

Nhưng nhà A Trúc rất giàu có, thường sai người mang đồ ăn, quần áo đến cho hai đứa, còn cho chúng đi học. Vì vậy, quan hệ giữa chúng với A Trúc vô cùng thân thiết.

Tống Tiểu Hà không ngờ kiếp trước mình lại là một người tốt bụng đến vậy. Có lẽ vì kiếp này đã rải bạc quá nhiều, nên đến đời này mới nghèo rớt mồng tơi, ngày ngày sống tằn tiện cùng sư phụ.

Nhắc đến sư phụ…

Tống Tiểu Hà nhớ sư phụ từng đến thành này. Ngày tháng ghi trong thư là năm Sùng Khánh thứ bốn mươi bảy, nghĩa là năm ngoái ông đã tới đây. Hiện giờ chắc hẳn ông đã rời đi, tiếp tục xuôi nam tìm Trường Sinh điện.

Chỉ là không biết khi ở thành này, sư phụ có từng gặp A Trúc, có từng nhìn thấy kiếp trước của Tống Tiểu Hà hay không.

Có lẽ trong những năm tháng dài đằng đẵng trước kia, sư phụ từng nói với nàng những câu như: “Chúng ta quả thật có duyên.” Chỉ tiếc Tống Tiểu Hà đã chẳng còn nhớ.

A Trúc chơi với Trường Hàn và Ngọc Tâm suốt cả buổi chiều, đến khi trời tối mới về nhà.

Tiền viện vẫn là binh sĩ đang luyện công, Vân Phức dĩ nhiên cũng ở trong đó.

Sau trận cãi vã cuồng loạn lần trước, Vân Phức cũng không thật sự ôm hận đến mức đoạn tuyệt quan hệ mẹ con với Vân Trần, ngày tháng vẫn như cũ.

Vân Trần đứng trên bậc thềm, đôi mắt sắc bén dõi xuống đám binh sĩ. Hễ trông thấy ai động tác không đúng chuẩn hoặc chỉ hơi lơ là một chút, nàng lập tức nghiêm khắc quở trách. Dẫu người mắc lỗi là Vân Phức, nàng cũng tuyệt đối không nương tay.

A Trúc đứng bên cạnh nhìn một hồi lâu, giống như thường ngày, lên tiếng “xin tha” cho Vân Phức rồi đưa nàng ấy đi.

Vân Phức mệt đến mồ hôi đầm đìa, đi đứng cũng lảo đảo, hai chân mềm nhũn.

Vào phòng, nàng lập tức ngã vật xuống ghế, ngửa đầu nhìn lên mái nhà, không nhúc nhích.

A Trúc quay người đứng trước bàn, lấy giấy bút ra, bắt đầu mài mực.

Không lâu sau, phía sau liền vang lên tiếng khóc của Vân Phức.

A Trúc đặt vật trong tay xuống, quay đầu nhìn nàng, chỉ thấy Vân Phức vẫn giữ nguyên tư thế lúc bước vào, chỉ có đôi mắt không ngừng tuôn lệ, hòa lẫn với mồ hôi.

“Thư Dao, muội làm sao vậy? Lại không vui ư?” A Trúc hỏi.

“Muội muốn rời khỏi đây, A Trúc.” Vân Phức nghẹn ngào nói: “Muội không muốn ở bên cạnh mẹ nữa. Sớm muộn gì muội cũng sẽ bị bà ấy giày vò đến chết.”

“Đừng nói vậy, Vân tướng quân sao nỡ lòng nào giày vò muội.” A Trúc khuyên nhủ: “Nếu luyện võ quá mệt, muội cứ nói với tướng quân, bà ấy sẽ không ép muội đâu.”

“Bà ấy mới chẳng chịu đâu. Bà ấy chỉ muốn muội cũng ra trận giết địch như bà ấy, nối tiếp vinh quang của bà ấy. Muội chỉ là một sự cố trong đời bà ấy mà thôi.”

“Muội hiểu lầm tướng quân sâu quá rồi. Bà ấy vẫn luôn rất quan tâm đến muội. Trước đó hai người cãi nhau, chẳng phải bà ấy còn sai người mang cho muội một bát mì sao?”

Vân Phức quệt nước mắt, ngồi thẳng dậy, nói: “Phải rồi, chẳng qua lúc nhớ đến muội thì cho muội hai viên táo ngọt, lúc không nhớ đến thì mặc kệ muội sống chết. Muội chẳng thèm bát mì ấy.”

A Trúc khựng lại, “Muội không ăn à?”

“Muội đập vỡ bát rồi.” Vân Phức đáp.

Lần này, A Trúc không thể nhanh chóng tiếp lời.

Ngay cả Tống Tiểu Hà cũng không khỏi nhói lòng.

Trong đầu nàng hiện lên vị đại tướng quân đứng lặng trong phòng bếp, lén rơi nước mắt, rồi cẩn thận múc đầy một bát mì. Nào ngờ bát mì ấy lại bị Vân Phức đập vỡ.

Có lẽ A Trúc cũng bị chấn động, mãi hồi lâu không lên tiếng. Vân Phức vẫn tiếp tục trút nỗi oán hờn trong lòng.

“Bà ấy bắt muội học những công phu đó, chẳng qua là không muốn muội làm tổn hại uy danh đại tướng quân của bà ấy. Muội ra ngoài, thường nghe người ta nói muội chẳng bằng mẹ muội. Ai nấy đều cho rằng muội là con gái tướng quân, hẳn phải giỏi giang hơn những cô gái khác.”

Vân Phức hậm hực nói: “Nhưng muội không làm được. Muội cũng chẳng muốn học những công phu đó, muội muốn về nhà…”

“Về đâu?” A Trúc hỏi.

“Khang Dương.” Vân Phức đáp: “Nơi đó mới là nhà của muội.”

A Trúc ngẩn người giây lát, sau đó mới nói: “Đừng lo, đợi chiến sự nơi biên cảnh Nam Diên lắng xuống, muội sẽ có thể về nhà.”

Vân Phức nói: “Còn chẳng biết phải đợi đến bao giờ. Bây giờ muội chẳng muốn ở bên cạnh bà ấy thêm một khắc nào nữa.”

“Thư Dao.” A Trúc khẽ gọi nàng, nói: “Muội không nên có thành kiến sâu nặng với tướng quân như vậy. Trên vai bà ấy gánh vác trọng trách, có lẽ thường ngày quả thật bị chuyện trong quân doanh níu chân, nhưng bà ấy không phải không quan tâm đến muội. Bát mì hôm ấy là chính tay tướng quân xuống bếp làm đấy.”

Vân Phức ngẩn người, lần này im lặng rất lâu. Những lời oán trách chưa kịp thốt ra cũng đều nuốt lại. Nàng ngồi đờ đẫn một lúc rồi đứng dậy rời đi.

A Trúc chẳng biết đang nghĩ gì, khẽ thở dài một tiếng, quay đầu tiếp tục mài mực, sau đó ngồi xuống viết chữ.

Chẳng bao lâu, tiếng gõ cửa vang lên. A Trúc còn tưởng Vân Phức quay lại, nào ngờ mở cửa ra lại thấy Vân Trần đứng bên ngoài.

Bà đã thay bộ giáp nhẹ thường ngày, chỉ mặc một chiếc áo dài màu xanh sẫm, mái tóc dài buộc hờ, nở nụ cười dịu dàng với A Trúc.

“Tướng quân tìm ta muộn thế này, chẳng hay có việc gì quan trọng?” A Trúc vừa mời bà vào phòng vừa hỏi.

Vân Trần nói: “Cũng không hẳn là việc quan trọng, chỉ là ta nghĩ ngày thường cô thân thiết với Thư Dao, không biết con bé thích thứ gì?”

Hai người ngồi đối diện nhau. Vừa liếc mắt nhìn xuống, Tống Tiểu Hà mới trông thấy vật trong tay Vân Trần.

Thứ ấy nàng quen thuộc vô cùng, chính là khung thêu dùng trong việc thêu thùa. Trên đó còn cắm một cây kim nhỏ xỏ chỉ, cùng một hình thêu mới hoàn thành một nửa.

A Trúc cũng nhìn thấy, ngẩn ngơ hỏi: “Tướng quân đây là…”

“À, mấy ngày nay ta đang học thêu thùa.” Vân Trần mỉm cười, vẻ mặt có phần ngượng ngùng, “Đôi tay quen múa đao múa thương này cầm kim thêu lên, không ngờ lại vụng về đến thế, cứ như có sức mà chẳng biết dùng vào đâu. Vì vậy học mấy ngày rồi vẫn chưa có chút thành quả rõ rệt nào, cô xem giúp ta thế nào.”

Nói rồi, bà đưa khung thêu đến trước mặt A Trúc.

Hiển nhiên Vân Trần chưa từng chạm vào thứ này. Hình thêu trên đó rối tung chẳng theo quy củ, đường kim mũi chỉ thô kệch, hoàn toàn không thể nhìn ra bà định thêu thứ gì.

Tống Tiểu Hà vô cùng khách quan đánh giá trong lòng: Còn khó coi hơn cả món sư phụ ta thêu.

Ngón tay A Trúc lướt trên những đường chỉ dày đặc, nghi hoặc hỏi: “Tướng quân hà tất phải tự mình động tay? Muốn thứ gì thì cứ mời tú nương làm là được.”

Ban đầu Vân Trần im lặng, mãi một lúc lâu sau mới chậm rãi nói: “Ta muốn học thành thạo rồi mới dạy Thư Dao.”

A Trúc kinh ngạc ngước mắt nhìn bà.

Chỉ nghe bà thở dài một hơi, tiếp tục nói: “Con bé Thư Dao này cứ trách ta chỉ dạy nó luyện võ. Nhưng ta từ nhỏ đã học võ, những thứ khác ta cũng chẳng biết, không dạy nó được bao nhiêu. Sau khi nó dần lớn lên, thành kiến với chuyện này ngày càng sâu. Nếu nó muốn học thêu hoa, vậy ta sẽ dạy nó. Cũng chỉ là cây kim chọc tới chọc lui trên vải mà thôi.”

A Trúc nói: “Thì ra là vậy. Tướng quân dụng tâm lương khổ, chắc hẳn Thư Dao cũng sẽ hiểu tấm lòng của người.”

Vân Trần cười, nói: “Ta không cần nó hiểu. Chỉ mong nó bình an khỏe mạnh trưởng thành, sống những ngày vui vẻ là được. Sau này ta không còn nữa, nó cũng sẽ không bị người ta bắt nạt.”

A Trúc cũng cười theo, “Tướng quân nói đùa rồi. Người tốt như ngài nhất định sẽ sống lâu trăm tuổi.”

Hai người trông như đang nói đùa, kẻ một câu người một câu trêu ghẹo nhau.

Vân Trần hỏi A Trúc một vài điều Vân Phức yêu thích, lại nhờ nàng xem hình thêu của mình, sau đó đứng dậy rời đi.

A Trúc thu dọn giấy bút, rửa mặt chải đầu xong thì tắt đèn, nằm lên giường ngủ.

Chỉ vừa chớp mắt, mấy chục ngày đã trôi qua.

Vân Trần không chỉ học thêu thùa, còn học nấu nướng. Những thứ khác như cầm kỳ thư họa, bà thật sự không học nổi, đành chọn hai món này để bắt đầu. Học xong rồi lại dạy cho Vân Phức.

Bởi vậy, quan hệ giữa hai mẹ con cuối cùng cũng dịu lại trong một thời gian, số lần Vân Phức tìm A Trúc than thở cũng ít đi.

Ngày tháng bước sang tháng Năm, lưu dân ở Từ Xuân thành ngày một đông. Chiến hỏa bên ngoài bùng lên dữ dội, đang dần áp sát Từ Xuân thành.

Lúc này,trămhọ trong thành cuối cùng cũng bắt đầu hoảng sợ. Một bộ phận nghe tin quân địchmộtđường đốt phá cướp bóc đang tiến đến gần, bèn thu dọn hành lý bỏ trốn. Bầu không khí nặng nề tựa màn sương mù khổng lồ, bao trùm khắp thành Từ Xuân; trên gương mặt mọi người dần hiện lên vẻ lo âu.

Chiến tranh vốn vô tình. Nếu một ngày nào đó thiết kỵ quân địch thật sự kéo đến ngoài cổng thành, một khi giao chiến, tổn thất ắt sẽ vô cùng thảm trọng. Bất kể thắng hay bại, cuộc sống của dân chúng trong thành đều chẳng dễ chịu gì.

Huống hồ, nếu chiến bại, tất cả mọi người đều khó thoát khỏi kiếp nạn.

Giờ đây bên ngoài chiến sự khắp nơi, thổ phỉ lại thừa loạn làm càn. Rời khỏi thành Từ Xuân, liệu có mấy phần cơ hội sống sót, chẳng ai biết được. Vả lại, đây là nơi dân chúng trong thành sinh ra lớn lên, muốn rời đi tìm đường sống khác chẳng khác nào lên trời. Vì thế, sau khi một nhóm người rời khỏi thành, không còn ai bỏ đi nữa.

Giữa tháng năm, Vân Trần bỗng hạ lệnh trưng tập nam đinh trong thành, cho đào hào hai bên đường lớn dẫn đến cổng thành, bắt đầu âm thầm bố trí cạm bẫy.

Chiến tranh thật sự sắp ập đến. Người trong thành đều nhận ra điều ấy. Tiếng cười nói vui vẻ biến mất, thay vào đó là vẻ mặt nặng nề của từng người, cùng công việc đào hào, chôn bẫy ngày đêm.

Một số loài hoa trong thành bắt đầu tàn, báo hiệu mùa xuân sắp kết thúc. Lòng người hoảng hốt, thành trì cũng mất đi sức sống ngày thường.

Thấy vậy, Vân Trần liền sai người làm một tấm biển cổng thành mới, triệu tập dân chúng đến trước nha môn. Nàng đứng trên bậc thềm, nói với mọi người rằng trong thành có tường cao cùng tướng sĩ bảo vệ, nhất định sẽ bình an vượt qua cửa ải khó khăn; chỉ cần viện binh đến, nàng sẽ dẫn quân phản kích, đuổi quân địch khỏi Nam Diên.

Vân Trần từ trước đến nay vẫn là vị tướng quân được dân chúng trong thành tin tưởng. Nàng đứng ra nói chuyện, quả nhiên khiến lòng người phấn chấn vô cùng, trấn an đám đông vốn đang hoảng loạn, giúp mọi người bình tĩnh trở lại.

Sau đó, nàng sai người treo tấm biển cổng thành mới lên. Tấm biển “Từ Xuân Thành” cũ được tháo xuống, còn dòng chữ trên tấm biển mới là do chính tay nàng đề: “Bất Từ Xuân”.

Xuân tượng trưng cho vạn vật hồi sinh, sức sống dồi dào.

Bất Từ Xuân, nghĩa là sức sống sẽ tiếp nối mãi, lâu dài không dứt.

Sau khi tấm biển mới được treo lên, quả nhiên có tác dụng cổ vũ lòng người. Dân chúng trong thành tựa như có được hy vọng mới, cuộc sống thường nhật dần trở lại, không còn hoảng hốt rối ren như trước.

Nhưng bước chân chinh phạt của quân địch rốt cuộc sẽ không dừng lại. Bất kể dân chúng trong thành tin tưởng Vân Trần đến đâu, mang theo những ước nguyện tốt đẹp nhường nào, hiện thực cuối cùng vẫn luôn tàn nhẫn.

Đúng như những gì Lương Đàn viết trong thư, thiên tai và chiến tranh cùng lúc giáng xuống mảnh đất bất hạnh này. Năm đại hạn, chiến hỏa thiêu đốt, Bất Từ Xuân rốt cuộc vẫn không thể tránh khỏi tai ương.

Năm Sùng Khánh thứ bốn mươi tám, ngày mười một tháng sáu.

Vân Trần gióng trống lớn trước nha môn, triệu tập toàn bộ dân chúng trong thành đến đây. Mục đích chỉ có một — bảo họ thu xếp hành lý, bỏ thành chạy trốn.

Biến cố bất ngờ này khiến tất cả dân chúng luống cuống tay chân, người nọ nối người kia sốt ruột hỏi Vân Trần rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.

Đến nước này cũng không thể giấu giếm nữa, Vân Trần nói thật rằng quân địch đã tiến đến cách đây trăm dặm, chẳng bao lâu nữa sẽ tới Bất Từ Xuân. Suốt dọc đường, chúng gặp người còn sống là giết, đến cả binh sĩ đi báo tin cũng đã mất mạng. Đợi tin tức truyền tới tay Vân Trần, quân địch đã ở rất gần.

Dân chúng lập tức rối loạn, có người thậm chí bật khóc. Vân Trần cao giọng nói: “Chư vị, xin hãy nghe ta nói một lời. Ta biết mọi người không muốn rời xa quê hương, nhưng nếu không phải tính mạng đang bị đe dọa, ai lại muốn lìa bỏ quê nhà? Giờ đây, tù và của quân địch đã thổi vang. Trăm dặm đường, chẳng qua chỉ mất vài ngày. Nơi này đã không còn là chốn có thể che chở cho mọi người. Ta và các tướng sĩ trong thành sẽ ở lại giữ thành. Nếu thắng, chúng ta nhất định sẽ đi tìm mọi người trở về. Nếu bại, mọi người sang nơi khác mưu sinh, còn hơn uổng mạng dưới vó sắt quân địch.”

Nàng giơ tay, chỉ về phía cuối thành, nói: “Thung lũng kia chính là Long Tức Chi Cốc trong truyền thuyết, được Long Thần che chở. Kẻ lòng dạ bất chính không thể vào núi. Mọi người hãy rời khỏi đây từ lối đó. Chỉ cần vượt qua Long Tức Chi Cốc, phía trước sẽ là đường sống.”

Tống Tiểu Hà đứng trên lầu cao, nghe đến câu này thì sững người.

Đây chính là những lời Chung Tầm Chi từng nói với nàng khi khuyên nàng trốn vào thung lũng. Khi ấy, nàng còn nghi hoặc không biết Chung Tầm Chi nghe lời đồn này từ đâu; giờ xem ra, hẳn là lời truyền ra từ chỗ Vân Trần.

A Trúc ngoảnh đầu nhìn về phía cuối thành, Tống Tiểu Hà cũng nhìn theo, trông thấy thung lũng cao vút tận mây xanh kia.

Đây cũng là lý do bức tường thành cao lớn chỉ được xây một nửa. Bởi phía sau thành chính là thung lũng tráng lệ, bao bọc nơi đây như một vòng cung, nằm ở phía sau, trở thành bức bình phong thiên nhiên.

Long Tức Chi Cốc này bảo vệ một nửa còn lại của Bất Từ Xuân.

Vân Trần ra lệnh, tuyệt nhiên không phải chuyện đùa. Dân chúng đều bàn tán xôn xao, tiếng hoảng sợ nhất thời tràn ngập bên tai.

“Tướng quân!” Bỗng có một người lớn tiếng hô: “Quân địch đang ở trước mắt, sao chúng ta có thể bỏ mặc tướng quân mà đi?! Nếu viện binh không đến, chỉ dựa vào binh sĩ trong thành thì sao có thể chiến thắng? Ta không đi! Ta muốn ở lại cùng tướng quân giữ thành!”

Vân Trần cau mày, quở trách: “Tất cả mọi người đều phải rời đi! Không ai được ở lại!”

Nào ngờ người đàn ông kia chẳng những không bị dọa, ngược lại còn quay người, giơ cao hai tay về phía đám đông, khàn giọng hô lớn: “Nam nhi Nam Diên chúng ta, đương nhiên phải là bậc đội trời đạp đất, chẳng sợ sống chết! Hôm nay nếu chúng ta bỏ mặc tướng quân và binh sĩ mà chạy trốn, ngày thành bị phá, quân địch vượt qua thung lũng đuổi theo, chúng ta cũng chỉ có đường chết. Chi bằng ở lại giúp tướng quân giữ thành! Huống hồ quân địch tàn ác xâm phạm quê hương, tàn sát con dân Nam Diên chúng ta. Vì cha mẹ, vợ con của mình, chúng ta cũng phải ở lại, tranh cho họ một con đường sống. Mọi người nói có phải không?!”

Sau một thoáng im lặng chết chóc, chẳng biết ai trong đám đông lên tiếng hưởng ứng. Một tiếng “phải” vang dội vô cùng, ngay sau đó, những tiếng tương tự lần lượt nối nhau cất lên.

Âm thanh càng lúc càng vang, càng lúc càng đồng đều. Những người đàn ông giơ cao cánh tay, hết lần này đến lần khác hô “phải”, hô “bảo vệ quê hương ta”.

Tiếng khóc hòa thành một dòng. Đám đông ken kín trên phố bắt đầu ôm nhau khóc, vì tai họa giáng xuống, vì cuộc chia ly sắp tới. Tiếng gào khóc thê lương xen lẫn những khẩu lệnh đồng loạt, chấn động đến mức khiến tim Tống Tiểu Hà run lên, da đầu tê dại.

Vân Trần đã nhiều lần muốn ngăn cản, nhưng lời nàng vừa cất lên đều bị tiếng hô vang trời át mất.

Đại địch ngay trước mắt, nam nhân chọn ở lại cùng tướng sĩ giữ thành; nữ nhân thì dẫn theo người già tuổi cao và trẻ nhỏ, vượt qua sơn cốc tìm đường sống.

Tống Tiểu Hà biết rằng trong chuyện này ắt hẳn có vô số cuộc tranh cãi, biết bao điều không nỡ dứt bỏ, càng có những nam nhân chẳng muốn ở lại, lấy thân mình đón lấy cái chết.

Nhưng nàng không ngờ, những người cuối cùng chọn ở lại trong thành lại đứng kín cả một con phố dài.

Quân địch vẫn đang tiến gần, tình thế cấp bách, chuyện sắp xếp cho dân chúng trong thành rời đi qua sơn cốc không thể chậm trễ thêm nữa. Nàng đích thân dẫn binh sĩ đến từng nhà, bảo mọi người thu dọn đồ đạc, đến cuối thành tập hợp.

A Trúc đương nhiên cũng ở trong số đó.

Nàng có gia tài vạn quan trong thành, vậy mà lúc rời đi, hành lý thu dọn chỉ gói gọn trong một chiếc tay nải nhỏ, để tỳ nữ đeo trên lưng, rồi đứng vào hàng người phải xa quê.

Vân Phthơm ngát thì làm ầm ĩ dữ dội. Mấy ngày liền, nàng ta cãi nhau to tiếng với Vân Trần, tiếng gào khóc mất hết lý trí vang khắp cả tòa nhà.

Đêm trước ngày lên đường, Vân Phthơm ngát đổ bệnh, sốt cao, nằm trên giường rơi nước mắt.

A Trúc đến thăm nàng ta. Đang nói chuyện với nàng ta thì Vân Trần bưng một bát chè ngọt bước vào.

Cởi bỏ bộ giáp trên người, Vân Trần chẳng qua cũng chỉ là một người mẹ. Vóc dáng nàng không cao lớn, mặc chiếc áo vải mộc mạc đứng nơi cửa, trông nàng dường như chẳng khác nào mọi người mẹ trên thế gian.

A Trúc khẽ gật đầu với nàng, rồi đứng dậy rời đi. Lúc khép cửa lại, nàng nhìn thấy Vân Trần ngồi xổm bên giường, dịu dàng nhỏ nhẹ trò chuyện với Vân Phthơm ngát.

Dẫu hai mẹ con cãi nhau dữ dội đến đâu, dẫu Vân Phthơm ngát nói ra những lời tổn thương thế nào, Vân Trần vẫn mang theo món ăn nàng ta thích, đến bên giường từ tốn dỗ dành nàng ta ngủ.

Chuyện này hình như cũng chẳng có gì đặc biệt, mẹ nào cũng sẽ làm như vậy.

Tống Tiểu Hà nghe A Trúc lại khẽ thở dài, tiếng thở dài nặng nề.

Nàng cảm nhận được nỗi lòng ấy, chợt thấy thương cho chính mình ở kiếp trước, dù rõ ràng bản thân nàng cũng chưa từng nếm trải thứ tình cảm dịu dàng tinh tế như vậy.

Sư phụ chỉ biết mỗi khi nàng ốm thì khoác áo bông lên người nàng, kéo nàng đến bên chậu than sưởi ấm, bảo rằng đổ mồ hôi là sẽ khỏi, rồi hun mặt nàng đen vàng như nướng.

Ngày mười bốn tháng Sáu, toàn bộ dân chúng Bất Từ Xuân tập trung ở cuối thành.

Cảnh tượng ấy thật vô cùng tráng lệ. Tiếng khóc gần như nhấn chìm Tống Tiểu Hà. Ai nấy đều đeo hành lý trên lưng, khóc đỏ cả mặt, từ biệt những nam nhân chọn ở lại.

Tiếng khẩn khoản cầu xin đến tận lúc này vẫn không ngớt, nhưng những nam nhân quyết tâm ở lại vô cùng kiên định. Có người dặn vợ chăm sóc con cái cho tốt, có người dặn cha mẹ phải sống cho yên lành. Tóm lại, cuộc vĩnh biệt này khiến ngay cả kẻ ngoài cuộc như Tống Tiểu Hà cũng chịu một phen chấn động tận đáy lòng.

Chiến tranh mang tai họa diệt thân đến cho những dân chúng vốn sống yên bình êm ấm, khiến họ buộc lòng phải bỏ lại quê hương, tìm một con đường sống khác.

A Trúc đứng giữa đám đông. Nàng chẳng có người thân nào để từ biệt, bởi vậy từ đầu đến cuối đều yên lặng.

Cơn sốt cao của Vân Phthơm ngát vẫn chưa lui, hai má đỏ bừng, cả người trông chẳng có chút tinh thần.

Thế nhưng nàng ta cứ nắm chặt tay Vân Trần không buông. Khi đến trước mặt A Trúc, đôi mày mắt nàng ta rạng rỡ vui mừng, cười như một đứa trẻ, nói với nàng: “A Trúc, mẹ ta bảo sẽ đi cùng chúng ta.”

A Trúc nhìn Vân Trần bên cạnh, nói: “Nếu tướng quân có thể cùng đi với chúng ta, vậy thì còn gì tốt hơn nữa.”

Vân Trần xoa đầu Vân Phthơm ngát, không nói thêm gì.

Gặp nhau đã khó, chia xa càng khó hơn.

Cuộc ly biệt này khiến người ta đau lòng đến thế, chính bởi trong lòng nhiều người đều hiểu rõ: từ biệt lần này, e rằng ngày sau sẽ chẳng còn gặp lại.

Trong thành nhất định phải có người ở lại chống địch. Nếu quân địch đến nơi, phát hiện đây là một tòa thành trống, chúng rất dễ men theo sơn cốc tìm ra những dân chúng đang chạy trốn. Đến lúc ấy, e rằng chẳng còn ai sống sót.

Nhưng nếu tướng sĩ và nam nhân trong thành cố thủ nơi đây, dù trận chiến này đã định là tử cục, họ cũng sẽ khiến quân địch tổn thất nặng nề, phải dừng lại chỉnh đốn thật lâu. Như thế mới có thể giành cho những người bỏ trốn một con đường sống.

Mọi người khóc đủ rồi, dưới mệnh lệnh cứng rắn của Vân Trần, bắt đầu lên đường vượt núi.

Trước khi lưỡi đao trắng chém xuống, người xem cái chết tựa như trở về với sự sống, ấy là liệt sĩ.

Khi chiến tranh ập đến, luôn có người phải đứng ra gánh vác trọng trách, chống đỡ cả một phương trời. Dẫu biết rõ sẽ chết, dẫu trong lòng sợ hãi, họ cũng tuyệt không lùi bước.

A Trúc đi được nửa đường thì ngoái đầu nhìn lại.

Những nam nhân dưới chân núi đứng thành một hàng, lặng lẽ nhìn cha mẹ, vợ con rời xa. Mỗi lần người trên núi ngoái đầu, lại khiến họ rơi thêm một giọt lệ.

Vì thương nhớ, vì vĩnh biệt.

Lồng ngực Tống Tiểu Hà nặng trĩu, khó chịu đến mức gần như không thở nổi.

Suốt quãng đường dài tiếp theo, tiếng khóc trong đoàn người vẫn chưa ngừng. Vân Phthơm ngát vốn đang sốt cao, lại đi bộ suốt một lúc lâu, cơ thể đã hơi không chống đỡ nổi. Vân Trần bèn cõng nàng ta trên lưng, miệng khe khẽ ngân một khúc hát không rõ tên, âm điệu ấy nổi bật lạ thường giữa muôn vàn tiếng khóc.

A Trúc đi bên cạnh đương nhiên cũng nghe thấy.

Đó là một khúc nhạc quanh co mềm mại, du dương kéo dài, như thể vô số lời thì thầm dịu dàng đều hòa vào điệu hát, trong đó còn chan chứa tình yêu thương.

Chẳng hiểu vì sao, vừa rồi đối diện với cảnh biệt ly bi tráng ấy, A Trúc còn chẳng có phản ứng gì. Vậy mà lúc này nghe khúc hát dịu dàng ấy, nàng lại cúi đầu rơi lệ.

Tống Tiểu Hà cảm thấy tầm nhìn nhòe đi. Nước mắt to như hạt đậu lặng lẽ rơi xuống, rồi nhanh chóng được A Trúc lau đi. Ngay cả khi khóc, nàng cũng không phát ra tiếng nào.

Đi được một lúc, Vân Trần thấy Vân Phthơm ngát đã ngủ, bèn gọi một tỳ nữ đến, cẩn thận chuyển nàng ta sang lưng tỳ nữ.

Vốn dĩ Vân Phthơm ngát đang vòng tay ôm cổ Vân Trần, mười ngón tay còn đan chặt vào nhau, có lẽ chính là sợ mẹ sẽ rời đi khi nàng ta ngủ mất.

Nhưng nàng ta bệnh nặng, ý thức mơ màng, những ngón tay đang đan vào nhau rất dễ dàng bị gỡ ra. Rốt cuộc, nàng ta vẫn không thể giữ mẹ ở lại.

A Trúc nhìn thấy hết, nhưng không nói gì.

Phải rồi, cuộc từ biệt giữa Vân Phthơm ngát và mẹ diễn ra trong lặng lẽ. Nàng ta thậm chí vẫn còn đang ngủ, chẳng hề hay biết mẹ sắp rời đi, trở về thành, cùng binh sĩ và dân chúng trong thành giữ thành.

Tống Tiểu Hà cảm thấy ngay khoảnh khắc này, bí ẩn xem như đã được vén mở.

Vân Trần không cùng những bá tánh ấy chạy trốn, càng không dẫn binh sĩ bỏ thành. Cuối cùng nàng vẫn quay về, vậy nên những điều ghi chép trong sách vở, truyền miệng từ đời này sang đời khác, đều là giả.

Đó là những lời vu khống đổi trắng thay đen, những vết nhơ vô căn cứ, là sự sỉ nhục đầy ác ý nhắm vào Vân Trần.

Vân Trần kéo A Trúc sang một bên, lấy từ trong ngực ra một tờ giấy gấp lại rồi đưa cho nàng ấy: “A Trúc, ta có một chuyện muốn nhờ con.”

A Trúc đáp: “Tướng quân cứ nói.”

Vân Trần nói: “Đây là bản đồ trong thành. Ta đã chôn những thứ vô cùng quan trọng ở nhiều nơi trong thành, vị trí cụ thể đều được khoanh lại trên bản đồ. Con hãy cất giữ cẩn thận. Sau này nếu có cơ hội quay lại thành, hãy tìm những thứ ấy đào lên.”

A Trúc hỏi: “Những thứ ấy là gì?”

Trong lòng Tống Tiểu Hà cũng hỏi ra câu ấy, thậm chí còn hơi căng thẳng, thoáng chốc đã đoán đủ thứ về những vật được chôn bên dưới.

Là tiền bạc ư? Hay là thứ nàng để lại cho Vân Phức, hoặc những thư tín bí mật gì đó trong quân…

Chỉ thấy ánh mắt Vân Trần khẽ lay động, nàng chậm rãi nói: “Là thư nhà của bảy nghìn binh sĩ dưới trướng ta.”

A Trúc ngẩn người, hồi lâu không nói.

Lồng ngực Tống Tiểu Hà như lại bị lưỡi dao cùn cứa qua. Những chuyện cũ đau đớn đến mức khiến nàng nghẹt thở, chẳng biết có phải cảm xúc của A Trúc đã lây sang nàng hay không, mà trái tim nàng cũng đau đớn khôn nguôi.

Sắc mặt Vân Trần lại vô cùng bình thản, khẽ giọng nói: “Ta không thể đưa họ trở về quê nhà nữa, bèn bảo họ viết thư nhà rồi chôn rải rác khắp nơi. Nếu sau này con tìm được một chốn yên ổn để dừng chân, đợi chiến sự nơi đây lắng xuống, hãy dẫn người quay lại đào những bức thư ấy lên, đưa cho người thân của họ, được không?”

“Đây là việc phiền phức, nhưng trước mắt ta đã không còn ai khác để giao phó. Mong A Trúc có thể đồng ý với ta.”

Tống Tiểu Hà từng trông thấy vẻ bình thản ấy, trên mặt Tạ Quy, trên mặt sư bá.

Đó là vẻ ung dung khi biết mình sắp chết.

Vân Trần đã hiểu rằng không kịp chờ viện binh đến nữa. Trận chiến này là trận chiến chắc chắn phải chết. Những binh sĩ trẻ tuổi dưới trướng nàng sẽ không bao giờ có thể trở về quê nhà đoàn tụ với người thân.

Bức thư nhà này cũng sẽ trở thành lời từ biệt cuối cùng của họ dành cho người thân.

A Trúc siết chặt tấm bản đồ, gật đầu đồng ý.

Vân Trần mỉm cười, tựa như một người mẹ hiền từ, đưa tay xoa đầu nàng ấy, dịu giọng dặn dò: “Sau này con ở bên Thư Yểu, phải sống thật tốt, khỏe mạnh trưởng thành.”

“Ta… e rằng không thể nhìn thấy Thư Yểu lớn lên nữa. Trước khi đến đây, ta lo con bé ở nhà bị người khác bắt nạt nên mới đưa nó theo bên mình. Nào ngờ đến đây rồi con bé cũng phải chịu bao khổ cực, cuối cùng còn phải chạy nạn rời đi.” Nói đến đây, ánh mắt Vân Trần như hòa vào làn nước xuân, dịu dàng dập dềnh gợn sóng, hàng mi cũng ươn ướt. “Bao năm qua ta vẫn luôn thấy có lỗi với nó. Dù bù đắp thế nào cũng chẳng thể vãn hồi. Giờ trước lúc chia biệt lại còn lừa nó, có lẽ đời này nó sẽ không bao giờ tha thứ cho ta…”

Nàng nghẹn ngào, không nói tiếp nổi, bèn quay người dùng lòng bàn tay lau nước mắt, hít sâu một hơi rồi mới nói tiếp: “Sau khi nó tỉnh lại, con thay ta nói với Thư Yểu rằng đời này ta chỉ có một đứa con gái là nó, nó chính là người ta yêu thương nhất trên đời. Ta không phải một người mẹ tốt, kiếp này đã không còn cách nào trả hết món nợ ấy. Mong kiếp sau ta vẫn được làm mẹ con với nó, để ta chuộc lại lỗi lầm đời này.”

A Trúc chủ động nắm lấy tay nàng, khóc nói: “Tướng quân, Thư Yểu sẽ không hận người đâu.”

Lòng bàn tay Vân Trần đầy vết nứt nẻ và chai sạn, đó là dấu vết để lại sau bao năm chinh chiến, luyện võ và làm việc nặng nhọc.

Bàn tay nàng không mềm mại như những cô gái khác, nhưng lại tràn đầy sức lực. Nàng ôm lấy A Trúc, khẽ nói: “Con cũng là một đứa trẻ ngoan.”

“Đi đi.” Vân Trần nói: “Cứ đi thẳng về phía trước, vượt qua thung lũng này là đường sống của các con. Đừng quay đầu, cũng đừng sợ hãi. Chúng ta sẽ giữ vững con đường phía sau cho các con.”

A Trúc cùng những người khác tiếp tục đi về phía trước. Khi ngoái đầu nhìn lại, Vân Trần vẫn đứng nguyên tại chỗ, đôi mắt ngấn lệ, xa xa dõi theo Vân Phức.

Đến lần ngoảnh lại thứ hai, Vân Trần đã rời đi. Tấm lưng thẳng tắp rộng rãi, cứng cỏi, cao lớn như thể có thể chống đỡ cả trời đất.

A Trúc cùng mọi người đi tiếp thêm hai canh giờ. Cuối cùng, trong lúc nghỉ ngơi, nàng lặng lẽ rời đi.

Nàng để lại một bức thư, ghi rõ công dụng của tấm bản đồ cùng đôi câu từ biệt ngắn ngủi, rồi nhét cả thư lẫn bản đồ vào hành lý của Vân Phức. Sau đó, nhân lúc mọi người không chú ý, nàng đuổi nha hoàn đi rồi lặng lẽ quay trở lại.

A Trúc chọn quay về thành.

Tống Tiểu Hà cũng không biết vì sao A Trúc lại chọn quay về.

Có lẽ nàng ấy không muốn rời xa mảnh đất quê hương đã chôn cất người thân, nơi mình lớn lên; cũng có lẽ nàng ấy cô độc một mình, không vướng bận điều gì, chẳng muốn chạy trốn lưu lạc. Tóm lại, nàng ấy đã trở về thành.

Con đường khi đến mất hai ngày. A Trúc đeo hành lý nhỏ, lạc lối trong thung lũng suốt hai ngày, còn đường về mất năm ngày. Khi nàng trở lại Bất Từ Xuân, quân địch đã tiến đến trước cổng thành.

Tất cả đàn ông trong thành đều đứng trên đường phố, mặc quần áo dày cộm, dùng ván gỗ che chắn thân mình, trong tay ai nấy cầm đủ thứ, nào rìu, nào liềm.

Không có áo giáp và vũ khí dư thừa, họ chỉ có thể cố hết sức mang theo những thứ dùng làm vũ khí được, đứng phía sau các tướng sĩ.

Vân Trần thay một thân nhung trang, ngọn ngân thương trong tay uy phong lẫm liệt. Nàng đứng trên tường thành cao vút, bên cạnh là lá cờ lớn tung bay trong gió, trên đó thêu ba chữ “Bất Từ Xuân” vô cùng khí thế.

Ánh mặt trời rực rỡ chiếu xuống, khiến áo giáp sắt của các binh sĩ lấp lánh phản quang. Nhìn từ xa, cả đoàn người tựa như dòng sông gợn sóng lăn tăn, tráng lệ vô cùng.

Tất cả mọi người đều ôm quyết tâm liều chết, nghiêm trang chờ địch, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.

Sau lưng họ chính là đường sống. Họ hiểu rõ, ở lại đây thêm một khắc, cha mẹ, vợ con của họ sẽ có thêm một phần cơ hội sống sót.

Tống Tiểu Hà chưa từng thấy cảnh tượng như vậy. Nỗi bi tráng ấy khiến dòng máu trong xương cốt nàng cũng sôi lên.

Cái chết, dường như nơi đây đã trở thành chuyện bình thường đến chẳng thể bình thường hơn.

A Trúc chui vào một căn nhà của người khác, chọn lấy một món vũ khí thuận tay, tháo ván giường xuống buộc lên người. Đúng lúc nàng đang bận rộn, ngoài cửa vang lên một giọng nói quen thuộc.

“A Trúc?”

Nàng ngoảnh đầu lại, liền thấy cô bé đứng ngoài cửa, vui mừng cười với nàng: “Sao tỷ cũng ở đây? Ca ca, mau đến xem, A Trúc cũng ở đây!”

Ngay sau đó, cậu bé cũng chạy tới. Trông thấy nàng, cậu mừng rỡ vô cùng, chạy đến bên nàng: “Chẳng phải tỷ đã đi rồi sao? Sao lại quay về?”

Tim Tống Tiểu Hà chợt nảy lên, nàng vậy mà đã quên mất hai đứa trẻ này.

A Trúc còn kinh ngạc hơn, giọng bất giác cao vút: “Sao các em vẫn còn ở đây? Vì sao không đi theo mọi người?”

“Nam tử hán đại trượng phu phải ở lại giữ thành, đệ không đi.” Trường Hàn nói: “Đệ muốn cùng mọi người giữ thành.”

Ngọc Tâm cũng nói: “Ca ca không đi, muội cũng không đi.”

Hai đứa trẻ mới chỉ vài tuổi, chẳng biết tòa thành này sắp phải đối mặt với chuyện gì. Vốn dĩ chúng là những đứa trẻ không ai chăm nom, trước khi lên đường A Trúc cũng quên mất chúng, thế nên lúc mọi người rời đi, chẳng ai để ý hai đứa nhỏ vẫn còn ở lại đây.

A Trúc vừa hoảng hốt vừa tự trách, ôm hai đứa trẻ khóc nức nở, miệng không ngừng xin lỗi.

Trường Hàn không hiểu vì sao nàng khóc, bèn gọi Ngọc Tâm cùng lau nước mắt cho nàng.

A Trúc tháo hết những tấm ván trên người xuống, mỗi tay dắt một đứa trẻ, nói: “Đi, bây giờ ta đưa các em đi!”

Hai đứa trẻ không phản kháng, ngoan ngoãn theo A Trúc đi, nhưng vừa ra khỏi nhà đã nghe tiếng tù và vang dội, tiếp đó là tiếng trống lớn dồn dập. Vân Trần quát vang: “Bắn tên!”

Quân địch đã bắt đầu công thành!

Đã không kịp nữa rồi. Dẫu lúc này có liều mạng chạy trốn, e rằng cũng chẳng thể đưa hai đứa trẻ đi cùng.

A Trúc hoảng hốt bảo chúng: “Đi, trốn đi, tìm chỗ nào kín đáo mà trốn.”

Trường Hàn hỏi: “A Trúc định chơi trò chơi với bọn đệ sao?”

“Đúng vậy, giống như những lần chúng ta vẫn chơi ấy.” A Trúc lau nước mắt, giọng run run: “Các em đi trốn cho kỹ, ta sẽ đi tìm.”

Ngọc Tâm liền nói: “Lỡ bọn muội trốn kỹ quá, tỷ không tìm được thì sao?”

“Không đâu, không đâu.” A Trúc nói: “Chẳng phải lần nào ta cũng tìm được các em sao? Cứ trốn vào chỗ kín đáo nhất ấy.”

Trường Hàn nắm tay nàng, nói: “Tỷ đừng buồn, bọn đệ chơi trò chơi với tỷ. Đệ đi trốn ngay đây!”

Nói xong, cậu kéo em gái một cái rồi xoay người chạy đi.

Ngọc Tâm theo được mấy bước, bỗng ngoảnh đầu lại, đôi mắt đen láy nhìn chằm chằm nàng, cất giọng non nớt hỏi: “A Trúc, tỷ còn quay lại tìm bọn muội chứ?”

“Đương nhiên rồi.” A Trúc gắng gượng nặn ra một nụ cười: “Ta nhất định sẽ đến tìm các em.”

Ngọc Tâm gật đầu, rồi đuổi theo bước chân ca ca.

Tiếng trống trận ngày một dồn dập, tiếng tù và truyền đi thật xa. Binh sĩ trên tường thành thay nhau canh giữ, không ngừng bắn tên xuống phía dưới.

Nhưng vũ khí trong thành vốn đã chẳng có bao nhiêu. Vân Trần hạ lệnh châm lửa dầu trên tường thành, ngọn lửa men theo bức tường cao ngất nhanh chóng bốc lên, tiếng kêu gào vang khắp nơi, ngăn được một phần quân địch đang định trèo thang mây.

Vân Trần cầm ngân thương bước xuống khỏi tường thành, áo giáp trên người theo từng bước chân nàng mà vang lên tiếng lanh canh trong trẻo.

Thần sắc nàng nghiêm nghị, đôi mắt sắc bén vô cùng. Đứng trước hàng ngũ binh sĩ, nàng lớn tiếng quát: “Tướng sĩ Nam Diên, chúng ta vì điều gì mà chiến!”

“Bảo vệ giang sơn, giữ nước Nam Diên hưng thịnh!” Mọi người giơ cao lưỡi sắt, đồng thanh đáp lời, tiếng vang rung trời.

“Hay lắm!” Vân Trần cất giọng cao như nuốt trọn núi sông: “Mở cổng thành! Tướng sĩ Nam Diên, theo ta ra thành nghênh địch!”

Tiếng tù và đồng loạt vang lên, cánh cổng thành cao lớn nặng nề được mở ra. Các tướng sĩ hô vang: “Giết!”

Bọn họ ùa ra ngoài. Còn những người đàn ông ở lại trong thành thì làm theo lời Vân Trần, đợi quân sĩ ra hết lại đóng cổng thành, rồi đổ nước sắt vào chốt cửa, hàn chết nó lại.

Tiếng chém giết bên ngoài cổng thành nổi lên, đao kiếm va chạm, áo giáp leng keng, tiếng than khóc không dứt bên tai.

Bách tính trong thành lặng lẽ, tiếng khóc nghẹn ngào hòa thành một mảng.

Cảnh tượng bi tráng ấy khiến Tống Tiểu Hà chấn động chưa từng có!

A Trúc chạy theo con đường nhỏ đến chân thành, nhân lúc không ai để ý, men theo bậc thang lên tường thành.

Lửa vẫn đang cháy, trên đầu tường nóng rực. Nhìn ra ngoài, máu đã chảy đầy mặt đất.

Quân địch kéo đến đông nghìn nghịt, đứng dày đặc trên cánh đồng hoang trước cổng thành; chỉ riêng số lượng đã vượt xa bảy nghìn binh sĩ dưới trướng Vân Trần.

Ngọn ngân thương của Vân Trần tung hoành giữa đám đông. Dẫu khoác trọng giáp, thân hình nàng vẫn nhẹ nhàng nhanh nhẹn, mỗi chiêu đều không thừa một động tác, tất cả đều nhắm thẳng vào tính mạng đối thủ.

Nàng liên tục tung mình dưới nắng gắt, chớp mắt đã lấy mạng hơn mười người. Thân thủ lợi hại đến thế, quả là một vị tướng quân xứng danh.

Tướng sĩ Nam Diên dũng mãnh giết địch, liều chết giữ cổng thành. Quân địch như châu chấu, hết đợt này đến đợt khác không ngừng ùa lên.

Lưỡi đao chém đến quăn lại, áo giáp vỡ tan, từng người nối nhau ngã xuống.

Cái chết cận kề, nỗi sợ hãi bản năng nhấn chìm họ; tuyệt vọng trước thế địch chênh lệch bao trùm lấy từng người.

A Trúc nhặt dùi trống dưới đất lên, ra sức gióng trống lớn.

“Thùng thùng thùng thùng——”

Tiếng trống nặng nề vang vọng thật xa. Nàng ra sức vung cánh tay, dốc hết sức mình truyền sức lực ra ngoài, mong rằng các tướng sĩ Nam Diên đang chém giết trên chiến trường sau khi nghe thấy sẽ khơi lại ý chí chiến đấu.

Đó dường như là việc duy nhất nàng có thể làm.

Tiếng trống trận vang lên khiến những tướng sĩ vốn đã lộ vẻ mỏi mệt lại một lần nữa phấn chấn. Họ bùng lên sức lực cuối cùng, chẳng màng vết thương trên người, liều mạng vung đao, chỉ mong trước khi chết có thể lấy thêm một mạng quân địch.

Tiếng trống trận của A Trúc càng lúc càng vang dội, binh sĩ bên dưới càng đánh càng dũng mãnh. Máu chảy đầy đất, nhuộm đỏ vùng đất vốn yên bình thanh tĩnh này.

Một mũi tên từ xa bay tới, cắm phập vào người A Trúc.

Tống Tiểu Hà không cảm nhận được đau đớn, cũng chẳng biết mũi tên cắm ở vị trí nào. Nàng chỉ thấy A Trúc dốc hết sức lực gióng lên hồi trống cuối cùng, rồi nắm chặt dùi trống trong tay, lật người rơi khỏi tường thành.

Trong khoảnh khắc rơi xuống với tốc độ chóng mặt, mọi âm thanh đồng loạt biến mất. Trước mắt lại bị bóng tối nuốt chửng.

Tống Tiểu Hà biết chuyến hành trình tàn khốc này cuối cùng cũng đã kết thúc.

“A Trúc.”

Giọng Vân Phất truyền đến.

Tống Tiểu Hà chợt mở bừng mắt, thoát khỏi ảo ảnh hư vô. Cả người nàng run lên, hai chân mềm nhũn.

Trước mặt nàng là Vân Phức và Bộ Thời Diên. Vị tướng quân không đầu đứng bên cạnh Vân Phức, vẫn để nàng ấy nắm tay.

Sau lưng họ là ánh đèn trải khắp núi đồi, nơi đó đông nghịt đệ tử các môn phái.

Dưới ánh đèn, Bất Từ Xuân khắp nơi đều là thi cốt, cảnh tượng hoang tàn tan tác.

Thẩm Khê Sơn là người duy nhất đứng bên cạnh nàng.

Hắn giơ tay, nhẹ nhàng lau đi giọt lệ trên má Tống Tiểu Hà, khẽ hỏi: “Sao nàng khóc đau lòng đến vậy?”

Tống Tiểu Hà đau đớn khôn nguôi, cố điều hòa cảm xúc bằng những nhịp thở gấp gáp. Nàng vô thức nâng tay hắn lên, cọ vào lòng bàn tay hắn, nức nở tìm kiếm sự an ủi: “Thẩm Khê Sơn, ta buồn quá, hu hu.”

Trước mặt bao nhiêu người, Thẩm Khê Sơn vẫn dang tay ôm nàng vào lòng, siết chặt, chậm rãi vỗ về lưng nàng. Dường như hắn đã biết được đôi điều, bèn dịu giọng dỗ dành: “Đừng đau lòng vì chuyện đã qua, Tống Tiểu Hà. Những chuyện ấy đều là quá khứ không thể thay đổi.”

“ATre.” Đúng lúc ấy, Vân Phức ngắt ngang cử chỉ thân mật của hai người, bình thản nói: “Con đã nhìn rõ chưa?”