Bị Vô Tình Đạo Tiểu Sư Đệ Truy Ngược

Chương 120: Chẳng từ biệt mùa xuân (Hai)

Chương 120: Chẳng từ biệt mùa xuân (hai)

“Trong Long Tức Chi Cốc, thật sự có Long Thần sao?”

Dường như Tống Tiểu Hà đã nghe người ta hỏi câu này không chỉ một lần.

Long Thần ngủ say trong thung lũng, thân rồng khổng lồ hóa thành núi non, sống lưng uốn lượn hóa thành dãy núi, vảy rồng là muôn cây, máu rồng là sông ngòi.

Bách tính sống dựa vào núi tôn Long Tức Chi Cốc làm núi thần, đời đời thờ phụng.

Tống Tiểu Hà không biết mình đang ngồi ở nơi nào, cứ lắc lư chòng chành, chật hẹp tối tăm vô cùng. Tay chân nàng dường như bị trói thứ gì đó, siết cổ tay trắng ngần và mắt cá chân đau đớn khôn cùng, không thể giãy giụa dù chỉ nửa phần.

Trên đầu cũng bị trùm một tấm vải, che khuất mọi tầm nhìn, thứ duy nhất nàng nhìn thấy chỉ là bóng tối.

Nỗi sợ chiếm lấy lòng Tống Tiểu Hà. Đúng lúc nàng định lớn tiếng kêu cứu, chẳng hiểu vì sao lại không thể phát ra chút âm thanh nào.

Ngay lúc ấy, sự chòng chành đột nhiên dừng lại, tiếp đó là một cú chấn động dữ dội. Cú chấn động ấy làm tấm vải trùm trên đầu nàng rơi xuống.

Lúc này nàng mới phát hiện mình đang ngồi trong một chiếc kiệu vô cùng sơ sài, chật hẹp.

Chiếc kiệu này có lẽ được ghép tạm bằng mấy tấm ván gỗ cũ nát nào đó, còn phảng phất mùi gỗ mục nồng nặc. Tấm vải dày nặng che khuất ánh sáng, khiến những gì nàng có thể trông thấy đều mờ mịt.

Tấm vải rơi bên chân nàng, đỏ thẫm như bị máu nhuộm, cũ kỹ mà chói mắt.

Tống Tiểu Hà biết đây là hôn lễ dân gian.

Tân nương sẽ trùm khăn đỏ, ngồi trong kiệu hoa, sau đó được khiêng đến nhà tân lang.

Chỉ là lúc này tay chân nàng bị trói chặt, kiệu hoa thì sơ sài, trên người nàng lại chẳng có bộ hỉ phục đỏ nào, chỉ có mỗi tấm vải đỏ trùm đầu. Bây giờ, tấm vải ấy cũng đã bị chấn rơi xuống.

Rõ ràng nàng đã bị bắt, rồi bị cưỡng ép nhét vào chiếc kiệu này.

Cảm giác của Tống Tiểu Hà chân thực vô cùng. Nàng bắt đầu giãy giụa, dường như muốn dùng sức thoát khỏi trói buộc, nhưng mặc cho nàng gắng sức đến đâu cũng chỉ phí công.

Xung quanh chẳng có bóng người nào, yên tĩnh đến mức giống như có kẻ đã khiêng kiệu đến nơi hoang vu hẻo lánh rồi vứt nàng lại vậy.

Nhưng dù thế nào nàng cũng không thể phát ra tiếng, chẳng thể kêu gào, chẳng thể cầu cứu.

Đúng lúc Tống Tiểu Hà sốt ruột đến đầu đẫm mồ hôi, bỗng có một bàn tay thò vào, lặng lẽ vén rèm kiệu lên.

Sau đó, có người thò đầu vào trong kiệu, nhìn nàng bằng đôi mắt không chút cảm xúc.

Tống Tiểu Hà giật mình kinh hãi, bị dọa cho tỉnh giấc ngay tức khắc.

Nàng mở mắt ra mới nhận ra mình đã toát mồ hôi lạnh khắp người vì giấc mơ ấy.

Bên ngoài trời vẫn chưa sáng hẳn, một màu xám mờ, cả căn phòng cũng tối tăm vô cùng.

Thẩm Khê Sơn bị động tĩnh của nàng đánh thức, cũng tỉnh dậy theo.

Vừa mới thức giấc, hàng mày ánh mắt hắn còn vương vẻ lười nhác. Đôi mắt ngái ngủ liếc nhìn nàng, giọng vẫn khàn khàn: “Gặp ác mộng à?”

Tống Tiểu Hà quay đầu, chạm mắt với hắn. Đôi mắt hờ hững xuất hiện trong giấc mơ, đôi mắt nàng nhìn thấy ở màn cuối khi ngồi trong kiệu, lúc này lại hiện lên rõ ràng.

Nàng bỗng nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ.

“Thẩm Khê Sơn.” Nàng cúi người, khẽ lay cánh tay hắn, nhẹ giọng hỏi: “Chàng thấy chúng ta có kiếp trước không?”

“Kiếp trước?” Thẩm Khê Sơn dường như vẫn chưa tỉnh ngủ, theo bản năng nắm lấy tay nàng. Giọng hắn càng thêm lười nhác, mơ hồ không rõ: “Không chỉ kiếp trước, chúng ta còn có đời đời kiếp kiếp…”

Nói được một nửa, hắn lại ngủ thiếp đi.

Thấy hắn buồn ngủ díp mắt, Tống Tiểu Hà không quấy rầy hắn nữa, rút tay về, lặng lẽ xuống giường mang giày, sửa sang lại y phục rồi ra ngoài.

Bên ngoài vừa đúng lúc mặt trời ló dạng. Trên nền trời chỉ có một chút ánh sáng, nhưng cũng đủ xua tan bóng tối.

Có lẽ vì hôm nay phải lên đường đến Hung Thành, mấy người còn lại đều chẳng ngủ được ngon giấc, lúc này đã thức dậy, ngồi trong đại sảnh tầng một.

Mạnh Quan Hành, Trang Giang và mấy vị liệp sư khác đang ngồi trong phòng, dường như bàn bạc chuyện gì đó. Giọng họ không lớn, nhưng giữa gian sảnh tĩnh lặng lại nghe rất rõ.

Mạnh Quan Hành đang khuyên Trang Giang trở về Thiên Cơ Môn. Vốn dĩ hắn chỉ phụng mệnh Nhiếp Chẩm Băng hộ tống Tống Tiểu Hà đến Nam Diên, đến đây nhiệm vụ đã hoàn thành, không cần thiết phải tiếp tục đi xa hơn.

Nhưng Trang Giang không chịu nhận lời đề nghị của hắn, cho rằng đã đi đến gần Hung Thành rồi thì tuyệt đối không có chuyện bỏ bạn bè lại, một mình rời đi. Huống chi Vân Phức đã định đi cùng bọn họ, với tư cách đại đệ tử đứng đầu của Thiên Cơ phái, hắn càng không thể lâm trận bỏ chạy.

Cũng không thể gọi là tranh chấp, giọng điệu của hai người vẫn ôn hòa, người một câu, ta một lời trò chuyện.

Tống Tiểu Hà nghe một lát bên cạnh, cảm thấy mình chẳng chen lời được, bèn đi ra khỏi cửa.

Bộ Thời Diên đang ngồi ngay cửa.

Trông nàng tiều tụy hơn mấy ngày trước, sắc mặt gần như xám xịt, đôi mắt cũng chẳng còn ánh sáng. Bộ đạo bào rộng thùng thình khiến nàng trông gầy gò như chỉ còn da bọc xương.

Nàng ngồi trên ghế cạnh cửa, đang trò chuyện với mấy đứa trẻ. Trên mặt nàng mang theo nụ cười, cũng xem như thêm chút sức sống cho thân thể bệnh tật này.

Tống Tiểu Hà vừa định bước tới nói với nàng mấy câu, đã thấy Bộ Thời Diên đột nhiên ho sù sụ, hơn nữa còn ho rất dữ dội. Mặt nàng thoắt cái đỏ bừng, trông như sắp ho cả phổi ra ngoài.

Trước đó Tống Tiểu Hà cũng từng thấy Bộ Thời Diên ho như vậy, nhưng lần này hình như khác. Sau một hồi ho dữ dội như muốn lấy mạng, nàng bỗng phun ra một ngụm máu, hứng trọn trong lòng bàn tay.

Máu đặc quánh chảy xuống theo kẽ ngón tay, rơi lên bộ đạo bào cũ kỹ. Mấy đứa trẻ đang trò chuyện với nàng sợ hãi chạy tán loạn, sắc mặt Tống Tiểu Hà cũng trắng bệch, vội vàng chạy đến bên nàng: “Tỷ Diên!”

“Không sao.” Bộ Thời Diên mỉm cười yếu ớt, lấy khăn tay lau sạch máu trên lòng bàn tay. Nhưng vết máu dính trên áo, dù lau thế nào cũng vẫn còn dấu tích.

“Thương thế của tỷ lại nặng thêm rồi ư? Không có cách nào hóa giải sao?” Tống Tiểu Hà biết vết thương trên người Bộ Thời Diên không phải bệnh tật thông thường, nhưng bảo nàng trơ mắt nhìn sinh mệnh của Bộ Thời Diên dần cạn kiệt, nàng cũng chẳng thể chấp nhận. “Tỷ nói cho muội biết đi, có lẽ muội cũng có thể góp chút sức, giúp tỷ thoát khỏi cảnh khốn cùng này.”

“Công cốc thôi.” Lau sạch tay xong, Bộ Thời Diên vỗ mu bàn tay Tống Tiểu Hà, nói: “Muội không cần bận lòng vì ta. Đây là điều ta phải chịu.”

“Cái gì mà đáng phải chịu hay không đáng phải chịu, cứ tiếp tục thế này, tỷ sẽ chết mất!” Tống Tiểu Hà trở tay nắm lấy tay nàng, chỉ cảm thấy trên tay Bộ Thời Diên gần như chẳng có chút thịt nào, sờ đâu cũng toàn xương khớp, lòng bàn tay cũng lạnh buốt, chẳng còn chút hơi ấm của người thường.

Bộ Thời Diên nhìn Tống Tiểu Hà, đôi mắt chất chứa vẻ thần bí ấy lúc nào cũng dịu dàng như thế.

Nàng nói: “Tiểu Hà, muội phải nhớ, mỗi người đều có số mệnh của riêng mình, đều có nghiệp quả phải gánh chịu. Đã phạm sai lầm thì phải chịu phạt, chẳng ai có thể trốn tránh.”

“Muội chỉ cần kiên định với con đường mình đã chọn, không ngừng tiến về phía trước, rồi sẽ tìm được thứ muội muốn.”

Tống Tiểu Hà muốn nắm chặt tay Bộ Thời Diên, truyền hơi ấm từ lòng bàn tay mình sang, sưởi ấm bàn tay gầy trơ xương của nàng. Nhưng dù có cố sưởi thế nào, bàn tay ấy vẫn lạnh buốt.

Nàng dứt khoát ngồi xuống bên cạnh Bộ Thời Diên, không nói lời nào, chỉ lặng lẽ ở bên nàng.

Có lẽ vì đã trải qua một cuộc chia ly thật sự, trong lòng Tống Tiểu Hà đã có nhận thức cụ thể về những biến đổi của số mệnh. Những đau đớn khiến người ta xé lòng ấy, có thể âm thầm xảy ra mà chẳng một ai hay biết.

Hai người không nói gì, ngồi bên cửa cho đến khi trời sáng hẳn.

Vân Phức từ trong khách điếm bước ra, trông thấy hai người ngồi bên ngoài, bèn cười, đưa cho họ bánh thịt nàng mượn bếp ăn của khách điếm để làm.

Ánh mặt trời ban mai rọi từ sau lưng Vân Phức, viền lên gương mặt đang nheo mắt cười của nàng một lớp vàng dịu dàng. Ánh sáng rơi vào đôi mắt trong veo của Tống Tiểu Hà, cũng soi sáng gương mặt gầy gò của Bộ Thời Diên.

Dù đã xảy ra chuyện gì, hay chuyện gì sắp sửa xảy ra, vào khoảnh khắc này, lòng Tống Tiểu Hà được bao phủ bởi một sự bình yên.

Tống Tiểu Hà nhận lấy bánh thịt, thầm nghĩ dù con đường phía trước hiểm nguy đến đâu, nàng cũng phải bảo vệ thật tốt những người bạn đồng hành bên mình.

Họ đều là những người bạn quý giá mà nàng khó lòng có được.

Qua giờ Mão, trời đã sáng rõ.

Thẩm Khê Sơn cũng từ trên lầu đi xuống, trở thành người cuối cùng trong đội xuất hiện. Sau đó, mọi người lên đường, tiếp tục đi về phía nam.

Ra khỏi trấn là một vùng đất hoang rộng mênh mông không thấy điểm cuối. Ban đầu, trên mặt đất vẫn còn cỏ dại mọc um tùm, xanh mướt một màu.

Đi thêm mười mấy dặm, họ trông thấy tấm bia cấm Tiên minh dựng ở nơi này. Qua khỏi bia cấm, đất đai bắt đầu trở nên hoang vu, phóng mắt nhìn ra chỉ thấy đất vàng cát bụi. Ánh mặt trời chói chang treo trên đỉnh đầu, thiêu đốt mặt đất nóng như lò lửa.

May mà mọi người đều có linh lực hộ thể, đủ sức chống chọi với cái nóng.

Gần đến giữa trưa, mọi người nghỉ ngơi một lát, ăn chút gì đó rồi lại tiếp tục lên đường.

Họ đi suốt cả ngày. Trời dần tối, mặt trời lặn xuống, vòm trời chậm rãi bị màn đêm nuốt chửng.

Khi còn ánh mặt trời thì chưa thấy có gì, nhưng trời vừa tối, Tống Tiểu Hà đã thấy hơi rờn rợn.

Dù sao nơi đây cũng là địa phận bị Tiên minh xếp vào hàng hung thành, xung quanh lại đâu đâu cũng là dấu tích chiến tranh để lại. Nơi này tuy im lìm không tiếng động, nom như chẳng có sinh linh nào sống nổi trên mảnh đất này, Tống Tiểu Hà vẫn cảm thấy bất an.

Nàng dịch lại gần Thẩm Khê Sơn, khẽ tựa vào cánh tay hắn, mượn một chút cảm giác yên lòng.

Cũng thật kỳ lạ, ban ngày rõ ràng trời trong vắt, không một gợn mây, vậy mà đến đêm, trên trời thậm chí chẳng thấy cả trăng. Vài ngôi sao rải rác giữa màn trời cũng mờ nhạt đến gần như không nhìn thấy.

Mọi người lần lượt lấy đèn xách tay hoặc pháp khí chiếu sáng ra.

Tống Tiểu Hà đeo chiếc nhật quỹ nhỏ lên cổ tay, thỉnh thoảng lại nhìn một lần, vì vậy nàng biết họ đến tòa hung thành ấy vào giờ nào.

Gần đến giờ Tuất, trước mặt bỗng bay tới một tầng sương mù.

Làn sương này xuất hiện kỳ quặc, lại vô cùng dày đặc, chỉ trong chớp mắt đã bao phủ tất cả mọi người.

Sương mù che khuất những vật chiếu sáng trong tay họ, hút mất quá nửa ánh sáng, khiến đội ngũ vốn chẳng mấy khi sít sao lập tức mất dấu nhau.

Tống Tiểu Hà và Thẩm Khê Sơn vốn đi sát bên nhau. Sương mù bay tới, hai người vẫn đứng cạnh nhau, nàng theo bản năng nắm lấy tay hắn, kéo hắn dừng bước.

Ngay sau đó, phía trước lẫn phía sau đều vang lên tiếng người. Đó là tiếng Mạnh Quan Hành ra lệnh cho mọi người chớ manh động, cùng tiếng Tô Mộ Lâm gọi lớn từ phía sau.

Đội ngũ nhanh chóng dồn về giữa, thu hẹp khoảng cách vốn đang thưa thớt lại rất nhiều, lúc này mọi người mới trông thấy nhau.

Mạnh Quan Hành thử thi pháp phá màn sương, nhưng hoàn toàn vô ích. Chàng nói: “Sương ở đây quá dày, để phòng có người gặp chuyện bất trắc trong màn sương, ta nghĩ chúng ta nên tìm cách liên lạc với nhau.”

“Dây thừng.” Tống Tiểu Hà lập tức nghĩ ra cách, “Có thể dùng dây thừng buộc vào eo mọi người, giữ cho dây luôn căng. Nếu lực kéo của ai đó chùng xuống, sẽ có người lập tức nhận ra.”

Mạnh Quan Hành thấy cách này khả thi, bèn hỏi ý kiến những người khác. Mọi người đều tán thành.

Có điều, buộc tất cả mọi người vào cùng một dây sẽ gây trở ngại lớn cho hành động. Trang Giang đề nghị chia thành từng nhóm, mỗi hai người một nhóm. Trong mỗi nhóm chỉ cần chọn một người buộc dây với người của nhóm phía sau, đồng thời giữ người ấy trong tầm mắt là được.

Suốt dọc đường, Tống Tiểu Hà luôn đi sát Thẩm Khê Sơn, hai người đương nhiên thành một nhóm. Eo Tống Tiểu Hà được buộc dây, đầu dây kia nối với eo Vân Phức.

Tô Mộ Lâm rất có ý kiến với cách chia nhóm này, trong lòng cực kỳ bất mãn. Nhưng vì Thẩm Khê Sơn đứng ngay bên cạnh, tất nhiên hắn ta chỉ dám giận chứ không dám nói.

Chia nhóm xong, mọi người tiếp tục đi như thường, Tống Tiểu Hà đi ở đầu đội ngũ.

Lần này họ không đi được bao lâu. Mới chỉ vài dặm, một cổng thành đã sừng sững hiện ra trước mắt.

Cổng thành bị sương mù dày đặc bao phủ, chỉ trông thấy lờ mờ vài chỗ, nom như từng bị phá hủy. Dưới đất đầy đá gạch vỡ vụn, có lẽ còn cả vết máu, nhưng trong đêm tối và màn sương chẳng thể nhìn rõ.

Rõ ràng đây là một tòa thành đã bị công phá. Tường thành đổ vỡ, nhưng hai cột đá bên cạnh cổng vẫn còn nguyên. Dẫu trên đó đầy vết nứt và lỗ thủng lồi lõm, chúng vẫn chưa sụp xuống.

Ắt hẳn đây chính là lối vào tòa hung thành ấy.

Tống Tiểu Hà lại đi về phía trước hơn mười bước. Bỗng một luồng gió âm lạnh thổi thẳng vào mặt, nàng theo bản năng giơ tay áo lên chắn, chỉ cảm thấy luồng gió lùa qua tay áo, men theo sống lưng lướt một lượt, khiến nàng vô cớ thấy âm u lạnh lẽo.

Rõ ràng đang giữa mùa hè tháng Bảy, luồng gió này lại lạnh đến lạ.

Vừa hạ tay đang che mặt xuống, Tống Tiểu Hà bỗng trông thấy một cỗ quan tài trên khoảng đất trống cách đó không xa.

Ngay khoảnh khắc trông thấy nó, nàng sởn tóc gáy, sau lưng thoắt cái túa ra một lớp mồ hôi lạnh. Tim nàng thót lại vì kinh hãi, bước chân cũng theo đó khựng lại.

Nàng vừa dừng bước, giọng Thẩm Khê Sơn đã vang lên: “Sao vậy?”

Tống Tiểu Hà chỉ bị bất ngờ trước cảnh tượng đột ngột ấy, sau khi bình tâm đôi chút mới đáp: “Phía trước có quan tài.”

Hắn vẫn luôn đi sóng vai với Tống Tiểu Hà, tất nhiên cũng trông thấy cỗ quan tài, song sắc mặt vẫn bình thản như thường, nói: “Nàng nhìn kỹ xem, trên quan tài có xích sắt.”

Tống Tiểu Hà chăm chú nhìn một hồi, quả nhiên thấp thoáng thấy có thứ gì đó trên quan tài. Nhưng thực ra khoảng cách khá xa, quá nửa cỗ quan tài đều khuất trong sương mù, không thể trông rõ.

Chẳng mấy chốc, những người khác cũng đuổi kịp. Trông thấy quan tài, ai nấy lập tức nâng cao cảnh giác, lũ lượt lấy binh khí ra, tiến về phía nó.

Đến gần, mọi người mới nhìn thấy toàn bộ cỗ quan tài.

Nó lớn hơn quan tài thông thường mấy vòng, đen sì như thể có người đổ cả thùng mực lên, chẳng phản chiếu nổi dù chỉ một tia sáng.

Điều quỷ dị nhất là bên ngoài quan tài quấn những sợi xích sắt to bằng cổ tay, quanh mép còn đóng chi chít đinh đồng, nom chẳng khác nào đang trấn áp tà vật nào đó.

Cỗ quan tài nằm trơ trọi giữa khoảng đất trống, xung quanh không có thứ gì, lặng ngắt như tờ.

Ánh đèn lồng trong tay mọi người rọi lên đó, càng làm cảnh tượng thêm âm u đáng sợ.

Nhìn xích sắt và đinh đồng kia, có thể đoán bên trong quan tài ắt là thứ gì đó khiến người ta vô cùng khiếp sợ. Nếu không, người ta sẽ chẳng đóng nhiều đinh đến vậy để niêm phong quan tài, càng chẳng buộc quanh nó những sợi xích thô to kia.

Tống Tiểu Hà đứng bên cạnh, cảm thấy cỗ quan tài này thật sự quá lớn, còn cao hơn cả nàng. Nếu thứ nằm bên trong quả thật có vóc dáng như thế, vậy nhất định không phải người thường, thậm chí có lẽ còn chẳng phải người.

Nhất thời, mọi người đều im lặng, lặng lẽ đi vòng quanh quan tài quan sát.

Thẩm Khê Sơn gỡ xuống từ một chỗ trên quan tài một mảnh giấy nhỏ. Màu sắc trên đó gần như đã phai sạch, chỉ còn chút vàng nhạt. Hắn rũ mắt nhìn một lúc, bỗng nói: “Đây là phù lục. Hẳn người đóng đinh niêm phong quan tài đã dán rất nhiều phù lên đó, nhưng về sau lại bị xé mất.”

Tống Tiểu Hà ghé lại gần, kẹp lấy đầu ngón tay hắn để ngắm thật kỹ, nhưng chẳng nhìn ra manh mối gì, bèn hỏi: “Có nên mở quan tài ra xem không?”

“Không được.” Mạnh Quan Hành bác bỏ đề nghị của nàng, nói: “Quan tài đã bị phong kín ở đây, ắt hẳn có nguyên do. Tốt nhất chúng ta đừng tùy tiện động vào, cứ tiếp tục đi về phía trước.”

Đội hình có sự thay đổi, Mạnh Quan Hành và Trang Giang Hành đi đầu. Hai người đều hết sức cảnh giác, chỉ cần có chút động tĩnh, chắc chắn sẽ lập tức phát hiện.

Cổng thành và tường thành bị phá hủy quá nghiêm trọng, Tống Tiểu Hà không thể dựa vào mắt thường để nhận định thành này có phải nơi sư phụ đã khắc họa lại hay không. Vòng qua cỗ quan tài, nàng cùng mọi người bước qua những bức tường đổ nát, tiến vào trong thành.

Đợi mọi người vào thành, đi xa dần, bóng dáng hoàn toàn bị sương mù nuốt chửng, khắp nơi lại trở về cảnh chết lặng.

Nơi âm u bị sương mù dày đặc bao phủ, tựa như chẳng còn dấu vết sinh linh nào từng sống sót. Thế mà chẳng biết từ đâu bay tới một con quạ lông đen, vỗ cánh đậu trên đỉnh cột thành cao lớn.

Nó xoay đầu, mổ mấy cái vào tấm biển treo trên đỉnh cột. Đôi cánh vỗ ràn rạt dường như xua tan đôi chút sương mù dày đặc, để tấm biển hiện ra trong màn đêm. Trên đó có ba chữ lớn đã cũ: Bất Từ Xuân.

Đi được một đoạn, Tống Tiểu Hà tạm thời đưa đèn lồng cho Thẩm Khê Sơn, rồi lấy tấm bản đồ ghép từ linh khí ra, thử đối chiếu với con đường trước mắt.

Trong thành tĩnh mịch đến đáng sợ, ngay cả tiếng bước chân cũng như bị thứ gì nuốt mất. Xung quanh lại toàn là sương mù, Tống Tiểu Hà không thể nhìn rõ cảnh vật, khó tránh khỏi có chút sợ hãi trước những điều chưa biết trong bóng tối.

Nhưng nếu trong thành thật sự có tà vật hung dữ, thì tình cảnh này chẳng khác nào địch ở trong tối, ta ở ngoài sáng. Họ không thể chia nhau hành động trong tòa thành hung hiểm này, đành phải tụ lại thành nhóm, nâng cao cảnh giác đề phòng thứ gì đó bất ngờ tập kích.

Ngoài sự tĩnh lặng, trong phạm vi tầm mắt có thể thấy còn có cảnh tượng sau chiến tranh khắp nơi. Trên đường phố đá vụn nằm la liệt, đâu đâu cũng là tàn tích của những công trình đã sụp đổ, vỡ nát. Đi tiếp về trước, trên mặt đất còn dần xuất hiện những bộ xương trắng hếu.

Có bộ xương còn khá nguyên vẹn, nhưng phần lớn đều thiếu tay chân, xương cốt vương vãi khắp nơi.

Nhìn thấy vô số xương trắng trong thành, sắc mặt Tống Tiểu Hà tái mét, chẳng dám đặt chân xuống.

Càng nhìn, lòng nàng càng quặn thắt. Nơi này có nhiều thi thể như vậy, chứng tỏ năm đó sau khi thành bị phá, quân địch đã thẳng tay tàn sát, giết sạch cả những bách tính vô tội. Những bộ xương trên mặt đất có lẽ đều là người bị giết khi đang chạy trốn, rồi bị vứt bừa bãi trên đường. Hơn hai mươi năm trôi qua, cuối cùng chỉ còn lại những khúc xương này.

Tống Tiểu Hà không đành lòng nhìn thêm, bèn chăm chú nghiên cứu bản đồ, nói với người đi phía trước: “Mạnh sư huynh, trên bản đồ vẽ rằng sau khi vào thành, men theo đường chính đi thẳng thì bên đường sẽ có một ngôi miếu. Miếu thường được địa linh che chở. Chúng ta đã đi suốt cả ngày, chi bằng vào miếu nhóm lửa nghỉ chân trước, rồi sau đó hãy dò xét tòa thành này, được không?”

“Vậy chúng ta tìm thử xem.”

Tìm một hồi, quả nhiên họ tìm được một ngôi miếu.

Đến lúc này, Tống Tiểu Hà mới xác định được nơi sư phụ từng dừng chân nghỉ ngơi ở Nam Diên chính là tòa thành này.

Sau đó, lúc rời đi, ông đã dùng ngọc thần song ngư khắc họa lại tòa thành, còn để lại một tấm bản đồ bên trong thành. Tuy Tống Tiểu Hà không biết vì sao ông làm vậy, nhưng ít nhất hiện giờ nàng đã có thể chắc chắn rằng trong tay mình có bản đồ của tòa thành hung hiểm này.

Chỉ cần không lạc lối trong sương mù, họ sẽ đỡ tốn công sức hơn nhiều.

Những nhà cửa lầu gác khác trong thành đều bị phá hủy nghiêm trọng, riêng ngôi miếu này vẫn còn khá nguyên vẹn. Có lẽ ngay từ khi xây dựng, nó đã rất kiên cố nên mới giữ được đến giờ.

Mọi người bước vào trong miếu, mới phát hiện nơi đây vậy mà có dấu vết người từng ghé qua.

Trên nền đất trong miếu có dấu vết đống lửa đã cháy, bên cạnh đám tro tàn còn nằm hai bộ xương trắng.

Trên người hai bộ xương ấy vẫn mặc tông phục của Liệp sư Tiên minh.

Tống Tiểu Hà và mấy người kia trông thấy cảnh này, sắc mặt đồng loạt trở nên nặng nề, chút đau buồn vương nơi chân mày. Họ lặng lẽ bước vào trong miếu.

Đây là những Liệp sư từng phụng mệnh Tiên minh, đến tòa thành hung hiểm này dò xét.

Ai nấy đều là dũng sĩ không màng hiểm nguy, nguyện bỏ mình để gìn giữ bình yên cho nhân gian.

Mấy Liệp sư dùng vải bọc hai bộ hài cốt lại, khiêng đến góc tường đặt xuống. Những người khác thì chất củi mới lên đống tro, nhóm lửa.

Lửa mang đến ánh sáng và hơi ấm, xua tan bóng tối cùng cái lạnh lẽo trong không khí.

Sau khi có ánh sáng, thần kinh căng cứng bấy lâu của mọi người cuối cùng cũng được thả lỏng. Họ ngồi thành một vòng quanh đống lửa, ánh lửa hắt lên gương mặt từng người. Chẳng biết có phải những bộ hài cốt nằm la liệt trong thành khiến lòng người nặng nề hay không, mà trong miếu thoáng chốc lặng như tờ, chẳng ai lên tiếng.

Tống Tiểu Hà ngồi sát bên Thẩm Khê Sơn, quay đầu ngắm mặt hắn.

Giữa hàng mày ánh mắt hắn nhàn nhạt, chẳng để lộ cảm xúc gì. Giữa một đám người đầy vẻ đề phòng, hắn có vẻ khác hẳn; tư thế ngồi cũng hơi lười nhác, hai chân xếp bằng nom rất thích hợp để gối đầu lên nằm nghỉ.

Dẫu tu vi đã tan biến, Thẩm Khê Sơn dường như cũng chẳng khác trước là bao. Lúc ở thành cát vàng trên đường đến Quỷ Vực Phong Đô, hắn cũng mang dáng vẻ như vậy.

Có lẽ hắn đã trải qua quá nhiều hiểm nguy, từng đến vô số nơi nguy hiểm, nên những chuyện này từ lâu đã trở thành cơm bữa với hắn.

Tống Tiểu Hà cho rằng ở bên người như vậy là an toàn nhất. Bọn họ thường có kinh nghiệm phong phú, biết phải ứng phó thế nào trước đủ loại tình huống.

Ánh mắt nàng nhìn hắn quá đỗi nóng bỏng, thẳng thừng. Thẩm Khê Sơn nghiêng đầu liếc nàng, rồi đưa tay vuốt trán nàng, gạt mấy sợi tóc lòa xòa lên trên, để lộ vầng trán nhẵn mịn. Tuy hắn chẳng nói lời nào, nhưng cử chỉ thấp thoáng vẻ vỗ về.

Chợt có người lên tiếng, phá tan sự yên tĩnh ấy: “Mạnh sư huynh, ta tìm thấy một quyển sổ trên người người này.”

Mọi người đồng loạt nhìn sang. Mạnh Quan Hành nói: “Đưa ta xem.”

Quyển sổ được đưa đến tay hắn. Sổ mỏng, chẳng có mấy tờ giấy.

Mạnh Quan Hành lật xem rồi nói: “Có lẽ đây là những lời đồn về tòa thành này mà hai vị đồng môn kia thu thập được trước khi đến.”

Lật tới lật lui vài lần, hắn lại bổ sung: “Nói chính xác hơn, là chuyện về vị tướng quân trong thành.”

Thẩm Khê Sơn nói: “Mạnh sư huynh đọc cho mọi người nghe đi.”

Mạnh Quan Hành gật đầu, đọc những lời trong sổ. So với lời đồn, chi bằng nói đây là một câu chuyện do người kể chuyện nào đó biên soạn. Trong đó dùng rất nhiều từ ngữ hoa mỹ để miêu tả, phối với giọng điệu đều đều của Mạnh Quan Hành, nghe chẳng mấy hấp dẫn.

Tóm lược lại, chuyện kể rằng hơn hai mươi năm trước, có cường địch xâm phạm, phát động một cuộc tấn công quy mô lớn vào biên giới Nam Diên, cũng chính là vùng đất nơi bọn họ đang ở. Chiến hỏa từ phương Bắc lan tới, chẳng ai ngăn nổi bước tiến của quân địch.

Thế nhưng tòa thành này từng trải qua chiến tranh, tường thành được xây cao và kiên cố, quân địch bị chặn bước ở nơi đây, bèn bắt đầu công thành.

Nghe nói trong thành lương thảo dồi dào, có bảy vạn dũng tướng, còn quân địch mang đến chỉ vỏn vẹn năm vạn. Nếu ra thành nghênh chiến, dựa vào tường thành cao lớn làm thành lũy, phần thắng của tướng sĩ trong thành ít nhất cũng phải bảy phần.

Nhưng trớ trêu thay, vị tướng quân giữ thành lại là một kẻ hèn nhát, nhu nhược. Hắn không những không ra thành nghênh địch, ngược lại còn nhiều lần khúm núm cầu hòa với quân địch, hứa hẹn bồi thường hậu hĩnh để đổi lấy việc đối phương rút quân. Nhưng quân địch khăng khăng công thành. Cuối cùng, thấy việc cầu hòa đã tuyệt chẳng còn hy vọng, vị tướng quân kia chưa đánh đã khiếp, thậm chí còn dẫn binh lính của mình bỏ thành tháo chạy.

Chuyện sau đó có thể đoán được. Thành trì không có tướng sĩ trấn giữ, dù tường thành có cao đến đâu cũng vô dụng. Thiết kỵ của quân địch giẫm nát cổng thành, tàn sát khắp nơi, hung tàn bạo ngược, giết sạch người trong thành. Máu nhuộm đỏ cả tòa thành, biến nơi đây thành một vùng đất đỏ. Mưa lớn liên tiếp mấy ngày cũng chẳng thể rửa sạch máu tanh.

Vua Nam Diên nghe tin thảm kịch, nổi trận lôi đình, phái người đi tìm vị tướng quân bỏ thành chạy trốn kia, nhưng chẳng biết bọn chúng trốn nơi nào để sống chui sống lủi, không tài nào tìm được tung tích những tướng sĩ ấy.

Nhà vua hạ lệnh khắc tên vị tướng quân cùng tất cả người trong gia tộc hắn vào sử sách ghi chép những tội ác tày trời, còn sai người tạc tượng đá để đời sau chửi rủa.

Tòa thành này cũng từ đó biến thành thành hoang. Ban đầu vẫn có người qua lại. Về sau, nhà vua nhiều lần phái người đến tu sửa xây dựng lại nơi đây, nhưng quái sự liên tiếp xảy ra. Rồi chẳng biết từ lúc nào, nơi này đã trở thành vùng đất hung sát có vào không ra.

Mạnh Quan Hành vừa dứt lời, trong miếu lập tức lặng ngắt. Ngọn lửa đang cháy khẽ nổ lách tách.

Vân Phù nhặt một cây gậy dài bên cạnh, chậm rãi khều đống lửa, khiến ngọn lửa bốc cao thêm mấy phần. Nàng hỏi: “Mạnh sư huynh, những chuyện ghi trong quyển sổ đều là sự việc trong thành năm xưa sao? Không còn ghi chép nào khác ư?”

Mạnh Quan Hành gật đầu: “Hơn nữa đều là chuyện về vị tướng quân kia. Tuy cách dùng từ khác nhau, nhưng nội dung nhìn chung chẳng khác mấy.”

“Vị tướng quân ấy bỏ mặc tính mạng người trong cả thành mà chạy trốn, sao quãng đời còn lại có thể sống yên ổn cho được?” Một Liệp sư căm phẫn nói: “Sau khi chết xuống cõi âm, hắn cũng phải bị đày vào mười tám tầng địa ngục, luân hồi chịu khổ, không được chuyển sinh, mãi mãi bị hành hạ trong luyện ngục để chuộc tội!”

Có hai người lên tiếng phụ họa, mắng vị tướng quân kia một trận ra trò. Tống Tiểu Hà dụi đôi mắt buồn ngủ, nói: “Cũng không thể chỉ dựa vào mấy lời đồn này mà vội kết luận được. Dẫu sao chúng ta chẳng biết nội tình chuyện năm đó, chỉ bằng vài dòng ít ỏi, sao có thể khẳng định câu nào cũng là thật?”

Bây giờ Tống Tiểu Hà đã khôn ra rồi. Những chuyện đồn đại, không thể tin hết; ít nhất cũng phải tin ba phần, nghi bảy phần.

Thẩm Khê Sơn thấy nàng chỉ trong chốc lát đã ngáp ba lần, bèn thấp giọng hỏi: “Buồn ngủ rồi à?”

Nàng gật đầu. Thẩm Khê Sơn liền nói với Mạnh Quan Hành: “Mạnh sư huynh, đêm đã khuya, để mọi người nghỉ ngơi đi. Nửa đêm đầu ta canh gác.”

Mạnh Quan Hành nói: “Ta canh cùng đệ.”

Thẩm Khê Sơn từ chối: “Không cần. Nơi này hiểm nguy, các huynh nghỉ ngơi dưỡng sức mới là quan trọng. Một mình ta canh là đủ, nửa đêm sau giao cho Tô Mộ Lâm.”

Vừa nói, hắn vừa liếc Tô Mộ Lâm một cái, nom như thể đang hỏi ý kiến hắn rất dân chủ: “Ngươi thấy sao?”

Tô Mộ Lâm rất muốn bật dậy vung tay hô lớn, nói rằng mình thấy không ổn chút nào. Nhưng đối diện với đôi mắt trông có vẻ vô cùng bình tĩnh của Thẩm Khê Sơn, hắn lại chỉ đành tiu nghỉu gật đầu.

Vốn ngôi miếu này đã chẳng rộng rãi gì, mọi người trải chăn đệm sát bên nhau, rồi cùng nằm xuống, tạm bợ nghỉ ngơi.

Tống Tiểu Hà co người ngủ bên cạnh Thẩm Khê Sơn, rất nhanh đã chìm vào mộng đẹp, một tay vẫn nắm chặt vạt áo hắn không buông.

Lửa vẫn cháy bập bùng, mọi người lần lượt đi vào giấc ngủ. Trong miếu, ngoài tiếng hít thở và tiếng củi khô cháy lách tách, chẳng còn âm thanh nào khác, ngay cả tiếng gió cũng không.

Tô Mộ Lâm không ngủ, ngồi ở phía bên kia trợn tròn mắt. Thẩm Khê Sơn tựa vào tường, nhắm mắt nghỉ ngơi, tai vẫn lắng nghe động tĩnh khắp bốn phía.

Nửa đêm đầu yên ổn vô sự. Đến khi phiên canh đêm của Thẩm Khê Sơn kết thúc, hắn liếc Tô Mộ Lâm, ra hiệu cho hắn nghiêm túc gác nửa đêm sau, rồi nằm xuống bên cạnh Tống Tiểu Hà, nắm tay nàng trong lòng bàn tay, nhắm mắt ngủ thiếp đi.

Trong miếu chỉ còn một mình Tô Mộ Lâm tỉnh táo. Hắn nhìn những người đang ngủ cạnh nhau trên đất, rồi lại nhìn hai bộ xương trắng bọc vải bên tường, sợ đến rụt cổ, thầm cầu mong nửa đêm sau mau chóng qua đi, ngàn vạn lần đừng xảy ra chuyện kỳ quái gì.

Nào ngờ trời chẳng chiều lòng sói, càng khấn vái như thế, chuyện lại càng tìm đến cửa.

Tô Mộ Lâm đang ngồi thẫn thờ thì bỗng có một bàn tay vỗ nhẹ lên vai hắn.

Lực tay rất khẽ, vậy mà lông tơ toàn thân hắn lập tức dựng đứng, trong lòng dâng lên cơn run rẩy dữ dội, mồ hôi lạnh túa ra như suối.

Tô Mộ Lâm chẳng dám nghĩ sâu, giữa đêm hôm khuya khoắt, ai lại không ngủ mà vỗ vai hắn.

Nhưng hắn cũng chẳng biết lúc này nên quay đầu nhìn thử, hay cứ hét toáng lên đánh thức tất cả mọi người.

Hắn nhìn Thẩm Khê Sơn vừa mới ngủ chưa được bao lâu, nghĩ nếu chẳng có chuyện gì mà lại đánh thức hắn, đừng nói không ra khỏi thành được, e rằng Tô Mộ Lâm còn chẳng bước ra nổi ngôi miếu này!

Nghĩ tới nghĩ lui, cuối cùng hắn vẫn nghiến răng thật mạnh, quyết định mặc kệ.

Nào ngờ một lát sau, lại có lực tay khe khẽ vỗ lên vai hắn, kèm theo giọng nói nhỏ nhẹ: “Tô sư đệ, Tô sư đệ…”

Nghe thấy lời ấy, Tô Mộ Lâm nhớ ra đó là giọng của một Liệp sư trong đội, lập tức thở phào nhẹ nhõm. Tay chân hắn bủn rủn, thầm nghĩ hóa ra chỉ là mình tự dọa mình. Chắc tên Liệp sư kia nửa đêm tỉnh dậy muốn đi vệ sinh, nhát gan nên gọi hắn đi cùng.

Hắn vừa đoán như vậy vừa quay đầu nhìn, đang định hỏi có chuyện gì thì động tác bỗng khựng lại. Lời sắp thốt ra cũng mắc nghẹn nơi cổ họng, cả người cứng đờ.

Sau lưng Tô Mộ Lâm quả thật có một người đang ngồi, thân thể người đó hướng thẳng về phía hắn, nhưng khi Tô Mộ Lâm vừa quay đầu, thứ hắn trông thấy lại là một cái ót.

Nỗi kinh hoàng lập tức nhuộm kín đôi mày mắt, hai mắt trợn trừng, da đầu tê rần. Nỗi sợ khổng lồ ập xuống nhấn chìm hắn, hơi thở như nghẹn cứng, không thể phát ra nửa tiếng động.

Giọng nói khe khẽ của người kia lại vang lên: “Tô sư đệ, giúp ta nhìn thử…”

Ngay sau đó, hắn thấy người kia giơ hai tay lên, đột ngột vặn mạnh đầu một cái, xoay cả cái đầu từ phía sau ra phía trước.

Đúng là gương mặt của vị Liệp sư kia, chỉ có điều máu đang chảy ròng ròng từ hai mắt, khóe miệng nhếch lên thành một nụ cười quỷ dị và khoa trương, méo mó đến cực điểm.

Đôi mắt đỏ ngầu nhìn chòng chọc vào Tô Mộ Lâm, hắn ta hỏi: “Đây là đầu của ta sao?”

Khoảnh khắc tiếp theo, Tô Mộ Lâm phát huy ưu thế tru lên của sói tộc, phát ra một tiếng rú chói tai xé trời, phá tan màn đêm tĩnh lặng, cũng dọa Thẩm Khê Sơn vừa mới chợp mắt giật bắn mình, lập tức tỉnh lại.