Bị Vô Tình Đạo Tiểu Sư Đệ Truy Ngược

Chương 108: Bảy Bức Thư (Bảy)

Tống Tiểu Hà đội đôi sừng rồng non nớt, mái tóc dài buông trên vai, khoanh chân ngồi dưới đất, dùng khăn gấm tỉ mỉ lau chùi linh khí trong tay.

Thẩm Khê Sơn ngồi bên cạnh, lưng tựa vào thân cây vẫn chưa lành lặn, cánh tay đặt trên đầu gối co lên, khẽ nghiêng đầu nhìn nàng.

Đối với đồ đạc của sư phụ, Tống Tiểu Hà đương nhiên hết sức nghiêm túc. Nàng lau sạch từng kẽ hở trên những phù chú rườm rà khắc trên linh khí, hàng mi dày rủ xuống, để lại bóng mảnh trên gương mặt trắng mịn.

Gió ngừng thổi, bốn bề tĩnh lặng như tờ, chẳng có lấy một tiếng động. Chóp tai Thẩm Khê Sơn khẽ động, chỉ nghe thấy hơi thở nhẹ nhàng của Tống Tiểu Hà.

Dường như nhận ra ánh mắt Thẩm Khê Sơn đã dừng trên người mình từ lâu, nàng khựng tay đang lau linh khí, quay đầu hỏi: “Vết thương của huynh còn đau không?”

Thẩm Khê Sơn đặt lòng bàn tay lên bụng.

Cảm giác bị đâm thủng bụng chẳng dễ chịu gì, nhưng giờ đã hoàn toàn lành lặn, thậm chí chẳng để lại sẹo.

Thẩm Khê Sơn đang nghĩ xem có nên nói thật hay không.

Nào ngờ Tống Tiểu Hà lại nói: “Ý muội không phải vết thương trên bụng huynh.”

Thẩm Khê Sơn nghiêng đầu đáp: “Chỗ khác ta không bị thương.”

Tống Tiểu Hà hơi nhổm người dậy, luồn tay qua tóc hắn, đặt lên sau gáy. Thẩm Khê Sơn vội giơ tay, nắm lấy cổ tay nàng.

“Muội sẽ đau.” Thẩm Khê Sơn mím môi, giọng như đang an ủi: “Ta không sao, đã quen rồi.”

Tống Tiểu Hà nắm cổ tay hắn, gỡ bỏ sức ngăn cản, khẽ nói: “Quen rồi đâu có nghĩa là không đau.”

Sau đó, trong lòng bàn tay nàng bừng lên ánh sáng đỏ thẫm. Thẩm Khê Sơn chỉ cảm thấy nơi sau gáy, ngọn lửa ngày đêm thiêu đốt chẳng lúc nào ngơi, bỗng phủ lên một luồng lạnh buốt. Cơn đau bỏng rát nóng hừng hực nhanh chóng dịu đi. Khi lòng bàn tay Tống Tiểu Hà áp lên cấm chú, chỉ nghe tiếng xèo xèo vang lên, nơi hành hạ Thẩm Khê Sơn suốt một thời gian dài cuối cùng cũng yên ổn được chốc lát.

Bàn tay nhỏ vừa mát lạnh vừa mềm mại khiến Thẩm Khê Sơn thoải mái khẽ thở dài, vô thức cọ vào lòng bàn tay nàng hai cái.

Tống Tiểu Hà nhìn hắn từ bên cạnh, thấy hắn hơi rũ mắt. Tuy trên mặt không có ý cười, nhưng giữa mày lại giãn ra thư thái, rõ ràng cấm chú đã khiến hắn chịu không ít khổ sở.

Nàng không thể tưởng tượng Thẩm Khê Sơn bắt đầu phải chịu đựng cấm chú này từ khi nào. Chốc lát, đôi mắt nàng đã cay xè, bèn vịn vai hắn, ngẩng đầu lên, đặt một nụ hôn khẽ bên môi hắn.

Thẩm Khê Sơn nhìn nàng, thấy trong mắt nàng ánh lên vẻ áy náy.

Hắn khẽ cười, không nói gì.

Trước kia dù đau đến đâu, Thẩm Khê Sơn cũng có thể nhẫn nhịn, huống hồ giờ nơi sau gáy đã bị Tống Tiểu Hà làm lạnh cóng, mất hết cảm giác.

“Muội không cần buồn vì ta.” Thẩm Khê Sơn nói.

“Nhưng huynh đau lắm, đúng không?” Giọng Tống Tiểu Hà vang bên tai hắn. Nàng vòng tay ôm cổ hắn, như một con thú nhỏ, khe khẽ cọ vào tai hắn.

“Ừ.” Thẩm Khê Sơn chậm rãi đáp: “Nhưng Tống Tiểu Hà, đây là cái giá ta buộc phải trả.”

Không rõ là vì bị Tống Tiểu Hà cọ vào hay bởi chính hắn cũng thấy thẹn thùng, tai hắn đỏ bừng, nhất là phần gần chóp tai, càng nổi bật trên làn da trắng ngần.

Nếu đây là hậu quả phải gánh chịu sau khi đem lòng yêu Tống Tiểu Hà, Thẩm Khê Sơn sẽ thấy đó là chuyện đương nhiên, thậm chí cam tâm tình nguyện.

Hắn không nói lời ấy quá rõ ràng, cũng chẳng biết Tống Tiểu Hà có nghe hiểu hay không.

Tống Tiểu Hà ôm hắn một lúc, rồi ngồi xuống, để vai kề sát cánh tay hắn, tiếp tục cúi đầu loay hoay với linh khí.

Lau sạch xong, Tống Tiểu Hà vặn linh khí mở ra một tiếng “cạch”. Ánh sáng bên trong bay ra, ngưng tụ thành mấy dòng chữ.

Năm Sùng Gia thứ hai, ngày mười bảy tháng Chạp.

Đầu xuân năm nay, cuối cùng ta cũng tìm được Trường Sinh điện.

Tương truyền đây là thần điện phù hộ vạn hồn thế gian. Chỉ cần thắp một ngọn đèn bên trong, hồn phách sẽ được bảo vệ đời đời kiếp kiếp.

Cứ trăm năm, cửa điện mới mở một lần. Ta đến không đúng lúc, vẫn chưa tới ngày mở cửa.

Nhưng ta cũng có duyên với thần điện này, lại hết sức may mắn. Ta chỉ quỳ trước cửa ba trăm ngày đã quỳ mở được cửa điện. Người giữ đèn mời ta vào, cho phép ta thắp một ngọn đèn cho huynh.

Lương Thanh, khi viết xuống tên huynh và ngày giờ sinh, ta mới nhớ ra huynh và ta sinh cùng một ngày. Huynh chỉ ra đời sớm hơn ta nửa khắc, vậy mà suốt hơn hai mươi năm lại làm ca ca của ta, luôn thay ta dọn dẹp hậu quả mỗi lần ta gây họa, chịu đựng tính khí tệ hại của ta. Nghĩ lại, điều đó thật chẳng công bằng với huynh.

Ngọn đèn Trường Sinh này xem như lời tạ lỗi của ta với huynh, mong huynh đừng giận, thường xuyên ghé thăm ta, dù chỉ là một làn hồn phách phiêu tán.

Nước mắt nóng hổi lăn khỏi khóe mắt Tống Tiểu Hà. Nàng vội dùng mu bàn tay quệt đi, chớp chớp đôi mắt ướt đẫm, đọc đi đọc lại mấy dòng chữ ấy.

Tống Tiểu Hà nghĩ, thật ra sư phụ biết sư bá sẽ không giận người, nhưng người cứ phải tìm một lý do để an ủi chính mình.

Người cố chấp cho rằng sư bá giận mình, nên hồn phách mới tránh đi, không đến gặp người. Ngày ngày tháng tháng, người không ngừng thắp hương dẫn hồn để tìm kiếm, không ngừng chuộc tội.

Tống Tiểu Hà nhớ lại lúc trước, khi gặp Trường Sinh điện ở Ma vực, sư phụ từng khinh khỉnh nói những ngọn đèn Trường Sinh kia đều là thứ vô dụng.

Thế nhưng năm xưa, người cũng từng băng núi vượt sông, lặn lội nghìn dặm, một mình đến vùng đất chiến hỏa ngút trời, tìm kiếm Trường Sinh điện, quỳ suốt ba trăm ngày. Trước điện, người để lại hai dấu gối, thành tâm khẩn cầu đến mức quỳ mở được cửa điện, rồi thắp lên một ngọn đèn Trường Sinh.

Người cũng từng ôm đầy hy vọng.

Câu phủ nhận nhẹ bẫng năm ấy, phía sau lại giấu kín nỗi thất vọng và oán hận với đèn Trường Sinh, sau vô số lần dẫn hồn thất bại suốt hơn ba mươi năm.

Khi nàng đang lặng lẽ rơi nước mắt, Thẩm Khê Sơn cúi xuống hôn nàng, áp môi lên khóe mắt, vòng tay ôm lấy nàng, nhẹ nhàng vuốt dọc lưng nàng.

Thẩm Khê Sơn hơi sợ nước mắt của Tống Tiểu Hà, nhất là dáng vẻ nàng ngồi lặng im, không nói không rằng, cứ thế âm thầm rơi lệ.

Mỗi lần nhìn thấy, hắn đều cảm thấy tim mình nhói đau từng cơn.

Tống Tiểu Hà tựa vào vai hắn, giọng nghèn nghẹn vì sụt sịt: “Muội thật sự thấy sư phụ là một người rất giỏi giang. Có lẽ người đã trải qua quá nhiều đau khổ, nên mới kiên cường đến vậy.”

“Không phải đau khổ đâu, Tống Tiểu Hà.” Thẩm Khê Sơn xoa đầu nàng, chậm rãi nói: “Mà là tình thân. Chấp niệm nảy sinh từ tình thân có thể khiến kẻhèn nhát yếu trở nên dũng cảm, khiến người yếu mềm trở nên kiên cường, nâng đỡ họ vượt qua sóng gió, băng qua núi non, đi thật xa, thật xa.”

Nghe hắn khẽ khàng an ủi, lòng Tống Tiểu Hà cũng dần yên ổn.

Dù là Tạ Xuân Đường hay sư phụ, họ đều vì người mình trân quý mà chết, đó là điều họ hằng mong muốn.

Tống Tiểu Hà từng vì cảm thấy cô độc mà liên tục đi vào giấc mộng tìm sư phụ. Sự an ủi và lòng thương xót không thể khiến nàng tỉnh khỏi mộng, ở lại với hiện thực; chỉ có tình yêu mới làm được.

Nàng cảm nhận được sự trân trọng và đồng hành của Thẩm Khê Sơn dành cho mình, nên mới có thể từ biệt sư phụ trong mộng. Giờ đây, nàng đã không còn mắc kẹt trong cơn ác mộng về cái chết của Lương Đàn, chẳng thể tìm ra lối thoát nữa.

Nước mắt Tống Tiểu Hà ngừng rơi. Nàng tựa vào vai Thẩm Khê Sơn một lúc rồi ngồi thẳng dậy.

Nàng nhẩm tính, ban đầu cướp được một món từ tay người khác, sau đó tự tìm thêm hai món, cộng với món Thẩm Khê Sơn đưa là được bốn món, vẫn còn thiếu ba món.

Nàng cất linh khí đi, rồi thẳng tay nắm lấy tay Thẩm Khê Sơn, kéo hắn đứng dậy khỏi mặt đất.

“Làm gì vậy?” Thẩm Khê Sơn thuận theo đứng lên, ngược lại còn siết chặt tay nàng.

“Ta muốn đi tìm những món còn lại.” Lòng bàn tay Tống Tiểu Hà nóng hổi, nàng nắm tay hắn kéo về phía trước. “Đây là những thứ sư phụ để lại, ta nhất định phải thu hồi tất cả.”

Cây cối quanh vùng sau khi bị cuồng phong trong trận ác đấu tàn phá, còn sót lại chẳng được bao nhiêu, phần lớn đều gãy ngang, có cây gãy cao, có cây gãy thấp.

Thân hình Thẩm Khê Sơn cao đến mức nổi bật. Được Tống Tiểu Hà nắm tay kéo đi, gặp những cành cây rủ xuống hay thân cây gãy chắn ngang đường, hắn đều phải cúi đầu tránh qua.

Vẻ ngoan ngoãn hiếm thấy trên người Thẩm Khê Sơn khiến hắn trông ôn hòa, thuần lương hơn hẳn.

Địa thế vẫn liên tục biến đổi. Tống Tiểu Hà chẳng có mục tiêu hay phương hướng gì, cứ thế đi bừa, vậy mà thật sự lại đụng phải một món.

Ngay khoảnh khắc nàng chạy tới đào linh khí lên, cây cối và địa thế bốn phía đột nhiên thay đổi. Những sườn núi cao thấp nhấp nhô biến thành đất bằng, vầng trăng hạ xuống, mọi cảnh vật đều hiện rõ trước mắt.

“Tiên sư Tống.”

Một giọng nói vang lên sau lưng nàng.

Bất thình lình nghe thấy, Tống Tiểu Hà lập tức giật nảy mình, vội vàng quay người lại, liền trông thấy Mãn Nguyệt đã hóa thành dáng vẻ nữ tử, đứng dưới ánh trăng.

Trước đó Tống Tiểu Hà không hề biết Mãn Nguyệt ở đây, thấy nàng ta xuất hiện, đương nhiên vô cùng kinh ngạc: “Sao ngươi lại ở đây?”

Mãn Nguyệt nhún mình cúi lạy, dịu dàng cất lời: “Mãn Nguyệt vẫn luôn cư ngụ tu luyện trên ngọn núi này. Cảm nhận được khí tức của tiên sư Tống nên mới ra gặp.”

Trong lòng Tống Tiểu Hà nảy ra một điều thắc mắc.

Thọ Lân thành ở phía bắc cách nước Hạ phía đông xa tận nghìn dặm. Nếu Mãn Nguyệt vẫn luôn tu luyện tại đây, sao khi nàng trên đường đến nước Hạ, nàng ta lại kéo nàng vào linh vực, cầu nàng phong chính?

Nàng hỏi ra thắc mắc ấy, Mãn Nguyệt bèn đáp: “Sau khi có cơ duyên được phong chính, ta liền đi khắp nhân gian tìm kiếm. Điều kiện để có tư cách ban phong chính cũng vô cùng nghiêm ngặt, đâu phải phàm nhân nào cũng có thể phong chính. Huống hồ, chính vì Mãn Nguyệt có duyên với tiên sư Tống nên mới kết được thiện quả này.”

Nói rồi, Mãn Nguyệt nâng hai món linh khí đã lau rửa sạch sẽ bằng cả hai tay, cung kính dâng lên: “Món tiên sư Tống vừa đào được chính là linh khí cuối cùng trên núi này.”

Tống Tiểu Hà vui mừng nhận lấy linh khí: “Món cuối cùng đang ở trong tay ai?”

“Ta không rõ. Nhưng mê trận đã bị phá, xin tiên sư đi theo ta đến một nơi.” Mãn Nguyệt nói rồi quay sang nhìn Thẩm Khê Sơn, dường như lo hắn sẽ không đồng ý.

Thẩm Khê Sơn cũng chẳng đến nỗi ghen với một con hồ ly nhỏ, bèn quay sang hỏi: “Đó là đồ sư phụ nàng để lại, có muốn đi xem không?”

“Đương nhiên là muốn.” Tống Tiểu Hà vừa bẻ linh khí, vừa nói: “Phiền ngươi dẫn đường.”

Mãn Nguyệt gật đầu, khi xoay người liền hóa thành một con hồ ly nhỏ màu vàng, nhảy nhót chạy lên trước dẫn đường.

Lần này đến lượt Thẩm Khê Sơn nắm tay nàng. Nàng cúi đầu đi theo phía sau, mở linh khí ra.

Ngày mùng năm tháng tư, năm Sùng Khánh thứ bốn mươi bảy.

Ngọn lửa chiến tranh đã thiêu rụi nơi này. Đây là tai họa còn đáng sợ hơn cả thiên tai, dân chúng trên mảnh đất này mất đi chỗ nương thân, xác chết nằm la liệt khắp nơi.

Ở đây, mạng người còn chẳng đáng giá bằng một chiếc màn thầu.

May mà trước khi đến, ta đã chuẩn bị đầy đủ. Dọc đường bôn ba lưu lạc, tạm thời tìm được một nơi nương náu. Trong thành này có tướng sĩ canh giữ, vị tướng quân cũng hết sức nhân từ, thu nhận ta. Không cần lo cho ta.

Có lẽ chẳng bao lâu nữa, thành này cũng sẽ bị chiến hỏa phá hủy. Ta chẳng giúp được gì, chỉ có thể dùng cách của mình lưu giữ tòa đô thành hiện vẫn còn yên bình, phồn hoa này.

Nhưng ngươi cứ yên tâm, ta sẽ không tham luyến sự an bình nơi đây. Ta sẽ tiếp tục đi về phía nam, tìm kiếm tung tích Trường Sinh điện.

Hôm nay là Thanh minh, ta mua rượu tế ngươi. Uống say rồi mới nhớ ra ngươi không thích uống rượu. Vậy đợi Thanh minh năm sau, ta sẽ tìm thứ khác cho ngươi nhé.

Ngày mười tám tháng chạp, năm Sùng Khánh thứ bốn mươi chín.

Ta không biết liệu còn có thể tìm được Trường Sinh điện giữa khói lửa chiến tranh này hay không. Nơi đây đã chết quá nhiều người. Đôi khi nằm lẫn trong đám xác ấy, ta cảm thấy mình cũng biến thành một cái xác.

Suốt dọc đường, ta đã giả chết tám lần, lần nào cũng qua mặt được người khác, xem như may mắn.

Có lúc, phàm nhân còn đáng sợ hơn yêu ma.

Nếu đi khắp Nam Diên mà vẫn chưa tìm được Trường Sinh điện, ta sẽ rời khỏi đây. Đừng lo cho ta.

Tống Tiểu Hà cẩn thận cất linh khí đi. Nghĩ đến cảnh sư phụ từng trốn đông né tây nơi vùng đất loạn lạc, ngày tháng ắt hẳn vô cùng chật vật, nàng chua xót trong lòng, vậy mà lại bật cười.

Sư phụ nhất định tức điên lên, vừa trốn vừa lầm bầm mắng chửi. Dường như nàng có thể trông thấy Lương Đàn thuở còn sống, người luôn bị nàng chọc giận đến mức nhảy dựng lên.

Mãn Nguyệt dẫn hai người vượt qua một đỉnh núi. Đứng trên ngọn núi cao, Tống Tiểu Hà phóng mắt nhìn xuống dưới.

Ánh trăng sáng rỡ, chiếu rõ cảnh sắc dưới chân núi.

Chỉ thấy giữa mấy ngọn núi bao quanh có một tòa thành.

Nhìn từ xa, trong thành chẳng có ngọn đèn nào sáng. Đình đài lầu các xếp thành hàng ngay ngắn, cổng thành cao sừng sững. Trên đầu tường hai bên cắm hai hàng cờ phấp phới trong gió, chính giữa là một lá đại kỳ, đang phần phật tung bay theo gió.

Linh khí nồng đậm chính là từ trong thành tỏa ra.

Mãn Nguyệt dừng lại trên núi, nói: “Có lẽ tiên sư men theo đường núi đi xuống, sẽ tìm được thứ mình muốn.”

“Thứ sư phụ để lại ở trong thành này sao?” Tống Tiểu Hà chỉ xuống dưới núi hỏi.

Mãn Nguyệt lắc đầu, tỏ ý không biết.

Tống Tiểu Hà cũng không hỏi thêm. Trước lúc chia tay, nàng hỏi câu cuối cùng: “Tạ Xuân Đường ở trong cơ thể ngươi vẫn ổn chứ?”

Mãn Nguyệt gật đầu đáp: “Mọi chuyện đều ổn. Hồn phách của hắn khôi phục rất nhanh, có lẽ chưa đến mười năm đã có thể lành lặn, trở lại luân hồi.”

Tống Tiểu Hà cong mắt cười, vỗ vai Mãn Nguyệt: “Đa tạ ngươi nhé! Sau này có việc gì cần ta giúp, nhất định phải tìm ta đấy!”

Mãn Nguyệt ngượng ngùng cười, trong lòng bàn tay nắm một chiếc răng sữa. Vốn dĩ hắn muốn tặng nó cho Tống Tiểu Hà, nhưng suốt dọc đường, Thẩm Khê Sơn cứ quấn lấy nàng không rời, Mãn Nguyệt chẳng tìm được cơ hội.

Hắn cáo biệt hai người, hóa thành làn khói vàng rồi tan biến.

Thẩm Khê Sơn gọi kiếm, đưa Tống Tiểu Hà bay xuống núi, đến trước cổng thành. Linh khí nồng đậm, gần như nhấn chìm cả hai.

Nhìn từ gần, cổng thành càng thêm cao lớn sừng sững. Tống Tiểu Hà phải ngẩng cao đầu mới miễn cưỡng trông thấy đầu tường.

Trên hai cánh cổng khắc hai con thú cát tường, một trên một dưới, dáng vẻ như đang nhảy lên, trông sống động như thật.

Tống Tiểu Hà thắc mắc: “Sao cổng thành này lại cao thế?”

Nàng từng đến Trường An. Cổng thành nơi ấy được xây dựng nguy nga tráng lệ, nhưng vẫn kém xa vẻ hùng vĩ của tòa thành trước mặt.

Thẩm Khê Sơn đưa tay vuốt lên cổng thành, trên đó chằng chịt vết xước. Hắn giải thích: “Nơi trải qua bao cuộc chiến loạn, cổng thành và tường thành đương nhiên phải xây cao lớn kiên cố, nếu không thì chống đỡ cường địch thế nào?”

Tống Tiểu Hà nhất thời vẫn chưa nghĩ thông, không hiểu sao tòa thành trong núi này lại trải qua bao cuộc chiến loạn.

Chẳng lẽ dân chúng trong thành thường xuyên đánh nhau với dã thú trên núi?

Nàng còn đang nghĩ ngợi lung tung thì Thẩm Khê Sơn đã đưa nàng đến chính giữa cổng thành.

Giữa khe nối của hai cánh cổng không có ổ khóa khổng lồ, mà treo hai miếng ngọc bội.

Dưới ánh trăng, ngọc bội đan xen hai màu xanh biếc và xanh lục, trông như một con cá đang quẫy đuôi. Vảy cá trên đó được chạm khắc vô cùng tinh xảo, quả thật lấp lánh như vảy cá thật.

Hai miếng ngọc bội, bất kể hình dáng hay màu sắc, đều giống hệt nhau.

Tống Tiểu Hà không hiểu rõ về ngọc, nhưng nàng biết trên đời này không thể có hai khối phỉ thúy giống nhau như đúc.

Một ý nghĩ chợt vụt qua đầu nàng, nàng ngạc nhiên hỏi: “Đây… có phải là Song Ngư Thần Ngọc không?”

“Chính là nó.” Đầu ngón tay Thẩm Khê Sơn khẽ chạm lên ngọc bội, mơ hồ cảm nhận được dao động linh lực, rồi quay sang nhìn Tống Tiểu Hà.

“Sao vậy?” Nàng thấy ánh mắt Thẩm Khê Sơn có phần kỳ lạ, bèn vô thức hỏi.

“Trên miếng ngọc này có phong ấn. Sư phụ nàng đã dùng nó làm vật dẫn, phong ấn cả tòa thành này.” Thẩm Khê Sơn nói.

Ban đầu Tống Tiểu Hà chưa hiểu, cảm thấy sư phụ phong ấn thần ngọc rồi giấu ở đây cũng hợp lý.

Nhưng nàng chợt nhớ ra, từ dân chúng Thọ Lân thành “chết đi sống lại” trước đó cho đến đội ngũ Tiên minh bị sao chép, sức mạnh của Song Ngư Thần Ngọc đâu có bị phong ấn, vậy nên mới khắc họa ra hết “người” này đến “người” khác.

Vì sao sư phụ không phong ấn thần ngọc, mà lại phong ấn cả tòa thành?

Nàng kinh ngạc nhướng mày, giơ tay túm lấy tay áo Thẩm Khê Sơn: “Ý ngươi là, thứ sư phụ giấu trong núi không phải miếng Song Ngư Thần Ngọc này, mà là cả tòa thành này sao?!”

Thẩm Khê Sơn gật đầu: “Không sai.”

Tống Tiểu Hà kinh ngạc há hốc miệng.

Dù thế nào nàng cũng không ngờ sư phụ lại dùng Song Ngư Thần Ngọc sao chép ra cả một tòa thành, rồi giấu nó trong núi.

Ngày thường trông sư phụ nghèo rớt mồng tơi, muốn dẫn Tống Tiểu Hà xuống núi ăn một bữa ngon cũng phải đi làm thuê cho người ta kiếm mấy đồng tiền. Ai ngờ ông lại có cả một tòa thành cơ chứ?

Tống Tiểu Hà rất lâu sau vẫn chưa bình tâm lại được, ngón tay cứ cạy tới cạy lui một miếng ngọc bội, nói: “Xem ra Song Ngư Thần Ngọc không thể sao chép vật sống. Chúng ta đứng ở đây mà chẳng bị ngọc ảnh hưởng gì.”

“Cứ xem thử làm sao phá được phong ấn này đã.” Thẩm Khê Sơn nói.

Hắn giơ tay ngưng tụ kim quang, nhẹ nhàng phủ lên Song Ngư Thần Ngọc. Vừa mới đến gần, ngọc bội đã tỏa ra ánh sáng xanh biếc, dịu dàng va vào kim quang.

Thẩm Khê Sơn duy trì một lúc rồi thu kim quang về, nói: “Cưỡng ép phá giải sẽ hủy hoại thần ngọc.”

Tống Tiểu Hà nghĩ ngợi, bỗng vỗ ngực nói: “Để ta! Ta là đệ tử duy nhất của sư phụ, theo ông ấy hơn mười năm, chỉ có ta hiểu ông ấy nhất. Phong ấn do ông ấy đặt xuống, biết đâu ta có thể giải được!”

Thẩm Khê Sơn nghiêng đầu, lùi lại hai bước, làm động tác mời.

Tống Tiểu Hà ghé tới, bắt đầu nghiên cứu Song Ngư Thần Ngọc, suy nghĩ xem có cách nào phá giải phong ấn mà sư phụ đã đặt xuống.

Nhưng hai miếng ngọc bội hình cá nhìn thế nào cũng chẳng có gì đặc biệt. Nếu không phải vảy cá bên trên ánh lên những tia sáng li ti, trông chúng chẳng khác gì ngọc bội bình thường.

Trên đó cũng chẳng có chữ viết hay cơ quan gì để nghiên cứu.

Thẩm Khê Sơn thấy nàng sờ đi sờ lại hai miếng ngọc bội, bèn kiên nhẫn đứng bên cạnh chờ.

Tống Tiểu Hà cứ nhìn chăm chú như vậy một lúc, bỗng đưa tay chọc vào một chỗ trên ngọc bội, rồi quay đầu hỏi: “Chỗ mắt con cá này, ban đầu có phải từng có thứ gì không?”

Nghe nàng nói, Thẩm Khê Sơn cũng ghé lại xem kỹ. Quả nhiên, bốn mắt của hai con cá đều là những lỗ hõm, trông như vốn có thứ gì đó được gắn vào trong rồi bị cạy mất.

Tống Tiểu Hà ghé đầu sát bên hắn. Một lọn tóc tết nhỏ rủ trước vai, cứ đung đưa qua lại trong khóe mắt Thẩm Khê Sơn.

Hắn chợt nghĩ ra đáp án.

Thẩm Khê Sơn nắm lấy một lọn tóc tết của nàng, đặt đồng tiền bên trên vào lòng bàn tay. Dưới ánh trăng, đồng tiền lại biến thành màu đen, hệt như lần trước Thẩm Khê Sơn nhìn thấy.

Hắn nói: “Thứ này hẳn là mắt cá.”

Tống Tiểu Hà kinh ngạc: “Sao lại thế được?”

Thẩm Khê Sơn tháo đồng tiền xuống, kẹp giữa đầu ngón tay rồi đưa đến gần ngọc bội. Vừa mới ghé sát, đồng tiền và ngọc bội đồng thời phát ra ánh sáng xanh. Đồng tiền từ từ thu nhỏ, sắc đen càng lúc càng đậm. Sau đó, Thẩm Khê Sơn ấn nhẹ một cái, đồng tiền liền được ấn vào mắt một con cá, vừa khéo khảm vừa khít, biến thành một viên ngọc trai nhỏ đen láy.

“Đây là tòa thành sư phụ để lại cho con.” Thẩm Khê Sơn nói.

Trong lòng Tống Tiểu Hà chấn động dữ dội, vẻ mặt ngẩn ngơ. Nàng nhìn con mắt cá vừa được lắp lên, thật lâu sau vẫn chẳng thốt nên lời.

Từ lúc biết ghi nhớ, nàng đã luôn đeo đồng tiền này trên bím tóc.

Sư phụ nói đây là món đồ nàng bắt được trong lễ thôi nôi, mang theo bên người có thể bảo vệ bình an. Thuở nhỏ Tống Tiểu Hà chẳng mấy coi trọng, mấy lần còn đem đồng tiền đi đổi đồ ăn vặt với người khác.

Về sau bị sư phụ đánh nhiều, Tống Tiểu Hà vừa nhớ ăn vừa nhớ đòn, lúc này mới không dám táy máy với đồng tiền ấy nữa. Dần dà, bốn đồng tiền kia dường như đã thành một phần thân thể nàng, chưa từng rời khỏi nàng.

Thời gian thấm thoắt, chớp mắt đã hơn mười năm trôi qua. Nào ngờ đến tận bây giờ Tống Tiểu Hà mới hiểu bốn đồng tiền này rốt cuộc là thứ gì.

Chẳng trách sư phụ luôn coi trọng chúng đến vậy. Mỗi lần Tống Tiểu Hà không biết trân quý, ông đều nổi giận đùng đùng, còn đánh vào lòng bàn tay nàng, phạt nàng không được ăn cơm.

Bởi những đồng tiền này chính là chìa khóa mở kho báu ông cất giữ.

Cũng là một khối tài sản vô cùng lớn ông để lại cho Tống Tiểu Hà.

Là tài sản người cha để lại cho con gái.

Tống Tiểu Hà bĩu môi, đáy mắt ánh lên lệ quang, giọng mang đôi chút trách móc: “Lão già này đúng là chuyện gì cũng không chịu nói với con.”

Thẩm Khê Sơn cầm bím tóc nàng, tháo đồng tiền phía trên xuống, nói: “Nếu nói với nàng, chắc chắn nàng đã la toáng lên cho cả Tiên minh biết chuyện này rồi. Tòa thành này còn giấu được sao?”

Tống Tiểu Hà bất mãn húc đầu vào cánh tay hắn, rầu rĩ nói: “Ta đâu có thích khoe khoang đến thế?”

Thẩm Khê Sơn cười nói: “Chẳng lẽ sau khi nhận bộ tông phục của Liệp môn, ta cứ mặc nó trên người chạy ra ngoại sơn, cố ý đi một vòng từ nam chí bắc, chơi đến tận khi mặt trời lặn mới chịu về nội môn?”

Tống Tiểu Hà hừ một tiếng: “Đó là vì trước kia bọn họ cứ chê cười ta.”

Thẩm Khê Sơn tháo đồng tiền trên đầu nàng xuống, đưa vào tay nàng: “Tự nàng mở đi.”

Nàng lần lượt ấn những đồng tiền vào mắt cá trên đôi cá. Khi đồng cuối cùng khảm vào, ánh sáng xanh dịu dàng chợt bừng lên rực rỡ. Hai miếng ngọc bội lơ lửng giữa không trung, đôi cá tung tăng quẫy đuôi, đan xen xoay tròn, cuối cùng đầu đuôi nối liền, hóa thành một miếng ngọc bội.

Tống Tiểu Hà đưa tay đón lấy ngọc bội vào lòng bàn tay.

Ngọc bội chạm vào tay mát lành, trơn nhẵn. Cùng lúc ánh sáng xanh nhạt dần, một làn sương trắng gần như trong suốt bốc lên.

Thẩm Khê Sơn giơ tay, dùng kim quang dịu dàng bọc lấy làn sương trắng, nói: “Đây chính là phách cuối cùng của sư bá nàng.”

Ánh sáng trên đôi cá thần ngọc nhanh chóng tan đi, hóa thành một miếng ngọc bội đôi cá trông bình thường chẳng có gì đặc biệt.

Tống Tiểu Hà vội lấy Trường Sinh Đăng ra, để Thẩm Khê Sơn đưa phách ấy vào trong đèn.

Trường Sinh Đăng chớp nháy mấy lần, rồi lại lặng im.

Hồn phách đã đầy đủ, Tống Tiểu Hà cuối cùng cũng giải quyết được một chuyện lớn trong lòng.

Nàng giơ tay kéo cổng thành. Tiếng “kẽo kẹt” kéo dài vang lên, cánh cổng cao lớn hùng vĩ chậm rãi mở ra.

Thế nhưng còn chưa kịp nhìn rõ cảnh tượng bên trong, phía sau bỗng vọng đến tiếng huyên náo mơ hồ.

Tống Tiểu Hà ngoảnh đầu lại, chỉ thấy những ngọn đuốc dày đặc từ rừng dưới chân núi kéo ra. Nàng không nhìn rõ lắm, nhưng vẫn nhận ra đó là dân chúng trong thành Thọ Lân.

Đi đầu là một nữ tử mặc váy tím. Dáng đi của nàng ta hơi kỳ lạ, nhưng tốc độ không chậm, chẳng mấy chốc đã đến nơi Tống Tiểu Hà có thể nhìn thấy rõ.

Nàng nhận ra đó là sư nương của Ngư Giảo.

Trên tay sư nương đang nâng linh khí cuối cùng mà Lương Đàn chôn dưới đất.