**Chương 2**
Kỷ Vân Đồng vừa về nhà, đã được đại bá mẫu gọi sang.
Sau khi lão thái thái qua đời, việc trong nhà đều do đại phòng quản lý.
Phụ mẫu Kỷ Vân Đồng ra ngoài làm quan, dẫn theo đệ đệ và muội muội đến nơi nhậm chức, chỉ để nàng ở lại bên cạnh lão thái thái phụng dưỡng.
Từ nhỏ đã chẳng mấy khi ở bên nhau, nàng đương nhiên không thân thiết với phụ mẫu.
Khi sinh nàng, mẫu thân suýt nữa băng huyết mà mất, vẫn luôn không mấy yêu thích nàng. Sau khi lão thái thái bệnh mất, mẫu thân cũng chẳng định đón nàng qua đó. Cứ thế, nàng lửng lơ sống ở nhà tổ, chẳng thân chẳng sơ.
Kỷ Vân Đồng không oán trách sự lạnh nhạt của phụ mẫu. Mẫu thân sinh nàng đã chịu bao khổ cực, lại còn định cho nàng một mối hôn sự tốt đến vậy, nàng còn điều gì để oán đây? Vì thế, tuy quan hệ với phụ mẫu bình bình, nàng vẫn không quên nhờ người mang thư nhà và lễ tết đến vào dịp năm mới, xem như tận một phần hiếu tâm.
“Nghe nói con mua điền trang với cửa hiệu?” Đại bá mẫu lên tiếng hỏi.
Kỷ Vân Đồng gật đầu: “Một số trang sức và đồ cũ đã không còn hợp thời, bán đi đổi lấy điền trang với cửa hiệu thì có giá trị hơn. Đến lúc xuất giá, con mang theo cũng khiến nhà ta thêm vẻ vang.”
Đại bá mẫu nghe xong nghẹn lời, trong lòng hơi chua xót. Khi bà gả vào Kỷ gia, chẳng có của hồi môn nào, suốt ngày bị bà mẫu đem chuyện ấy ra chì chiết, các chị em dâu cũng đều coi thường bà.
Kỷ Vân Đồng mới mười bốn tuổi, đã có thể tự mình mua cửa hiệu và điền trang, quả thật là cùng người mà khác số phận.
“Con có chủ ý là tốt rồi. Ta chỉ thấy con còn nhỏ nên mới hỏi han đôi câu, con đừng trách bá mẫu lắm chuyện.” Đại bá mẫu nắm tay Kỷ Vân Đồng, dịu dàng nói.
Kỷ Vân Đồng khẽ “vâng” một tiếng, ngoan ngoãn nắm lại tay đại bá mẫu.
Đại bá mẫu cũng là người đáng thương. Sau khi tam thúc tử trận, tam thẩm thủ tiết, hai người không để lại con cái. Tộc lão đề nghị đại bá kiêm tự hai phòng, ý là để đại bá giúp tam thẩm một tay, cho tam thẩm sinh con nối dõi thay tam thúc.
Chuyện hoang đường như vậy, đại bá vậy mà cũng đồng ý.
Càng hoang đường hơn là tam thẩm sinh liền ba bé gái, tộc lão lại bảo đại bá cứ kiêm tự, tiếp tục cố gắng. Thành ra bên đại bá mẫu chỉ sinh được một con trai trưởng, còn tam thẩm bên kia đã mang thai lần thứ tư, chẳng biết là trai hay gái.
Cứ sinh mãi thế này, chẳng biết rốt cuộc bên nào mới là phòng được kiêm tự.
Đó mới chỉ là một trong những chuyện phiền lòng đại bá mẫu phải đối mặt.
Chuyện phiền lòng thứ hai là khi còn sống, lão thái thái thiên vị con út, việc quản gia vẫn luôn giao cho tiểu thẩm thẩm lo liệu. Đến lúc lão thái thái qua đời, thứ giao vào tay đại bá mẫu đã là một Hầu phủ rỗng không.
Hỏi ra thì chỉ có một câu: vốn dĩ Hầu phủ đã chẳng dư dả gì.
Vẫn là tam thẩm bỏ tiền ra ứng phó, mới khiến cuộc sống trong Hầu phủ không đến nỗi túng thiếu.
Cái giá phải trả là đại bá lại qua ngủ trong phòng tam thẩm.
Chuyện trong nhà Kỷ gia kể ra quả thật khiến người ta buồn cười, chẳng trách Cố Nguyên Phụng coi thường.
Kỷ Vân Đồng hỏi: “Đại ca về rồi ạ?”
Nhắc đến con trai, nụ cười trên mặt đại bá mẫu chân thật hơn mấy phần, bà vội nói: “Về rồi, vừa nãy còn hỏi thăm con đấy. Giờ nó đang ôn sách trong thư phòng, con qua nói chuyện với nó đi. Chuyện đọc sách của nó ta chẳng hiểu gì, con trò chuyện với nó nhiều một chút.”
Kỷ Vân Đồng đáp lời, đứng dậy đến thư phòng tìm đại lang nhà họ Kỷ.
Đại lang nhà họ Kỷ năm nay mười sáu tuổi, tên húy Kỷ Triệu Phong, nhũ danh Đông Lang, nghe tên là biết sinh vào ngày tuyết rơi. Chàng có gương mặt giống đại bá mẫu, khuôn mặt rộng, lông mày rậm, tựa như trời sinh đã mang vẻ chính trực.
Gương mặt ấy đặt lên nam tử thì còn được, nhưng sinh trên người nữ tử lại chẳng mấy vừa mắt, bởi vậy đại bá mẫu ở nhà chồng vẫn luôn chẳng có địa vị gì.
“Tam muội muội về rồi.” Thấy đường muội, Kỷ Triệu Phong vội đứng dậy kéo nàng ngồi xuống. Mặt chàng đỏ bừng, niềm vui hiện rõ: “Sao muội đoán được đề mục buổi thi thơ lần này? Bài thơ huynh làm trước đã được Trương Đại học sĩ khen ngợi, ông ấy còn muốn nhận huynh làm học sinh.”
Kỷ Vân Đồng nói: “Đoán đề có gì khó, đọc nhiều công báo là đoán ra được thôi. Quan trọng vẫn là đại ca có tài học thật sự, mới lọt vào mắt Trương Đại học sĩ. Bằng không, dù biết đề trước mười ngày tám ngày cũng chẳng ích gì.”
Kỷ Triệu Phong thu lại nụ cười, nói: “Tam muội muội nói phải, huynh vui quá nên có hơi đắc ý quên mình.”
Kỷ Vân Đồng nói: “Lễ bái sư của huynh cứ để muội chuẩn bị, tránh xảy ra sơ suất.”
Kỷ Triệu Phong lại hơi do dự: “Thật sự phải bái sư sao? Lúc ấy Trương Đại học sĩ chỉ thuận miệng nhắc một câu, sau đó huynh còn chẳng chen đến trước mặt ông ấy được…”
Kỷ Vân Đồng giận sắt không thành thép: “Cho dù đó chỉ là lời Trương Đại học sĩ buột miệng nói khi đã ngà say, huynh nghe thấy thì vẫn là thật. Không thử sao biết không được? Dù không bái sư thành, huynh cũng chẳng mất mát gì.”
Thấy nàng giận, Kỷ Triệu Phong vội nói: “Được! Vậy làm phiền tam muội muội giúp huynh thu xếp.” Chàng cũng biết mẫu thân mình không giỏi những chuyện này, chỉ đành để đường muội trưởng thành sớm này vất vả một phen.
Kỷ Vân Đồng xua tay, cười nói: “Người một nhà cả, cần gì khách sáo. Muội còn trông cậy sau này đại ca sẽ làm chỗ dựa cho muội đấy.”
Kỷ Triệu Phong lập tức cam đoan: “Từ nhỏ huynh đã xem muội như em gái ruột. Sau này nếu Cố Nguyên Phụng dám bắt nạt muội, huynh nhất định sẽ giúp muội đòi lại công bằng!”
Kỷ Vân Đồng mỉm cười, không nói với chàng chuyện nàng và Cố Nguyên Phụng có lẽ sẽ không thành thân được.
Trước mắt, giúp Kỷ Triệu Phong bái một vị danh sư mới là chuyện quan trọng nhất.
Tước vị Hầu gia truyền đến đời Kỷ Triệu Phong sẽ không còn là tước Hầu nữa. Nếu Kỷ Triệu Phong không chịu phấn đấu, sau khi kế tước e rằng chỉ nhận được một chức quan nhàn tản.
Bậc trưởng bối nhà họ Kỷ đều chẳng thể nâng đỡ ai, không kéo chân sau, không sinh ý đồ xấu đã là tốt lắm rồi, căn bản không thể trông cậy.
Còn thế hệ này ư, đường đệ phòng tư đã bị lão thái thái nuông chiều hư hỏng; ba muội muội phòng tam lại chẳng chơi chung với nàng. Kỷ Vân Đồng suy đi tính lại, cũng chỉ có người đường ca Kỷ Triệu Phong là còn có thể bồi dưỡng.
Kỷ Triệu Phong sắp bái sư, không cần thiết sinh thêm rắc rối vào lúc này.
Nhà chồng có thể đổi, nhà mẹ đẻ thì không. Nàng phải tranh thủ cho con đường làm quan của Kỷ Triệu Phong một khởi đầu tốt đẹp.
Kỷ Vân Đồng nói: “Huynh bái sư rồi, những chuyện còn lại muội không giúp được huynh nữa.” Nàng cho lui những người khác, tâm sự với Kỷ Triệu Phong: “Muội nói một câu khó nghe, trưởng bối trong nhà ta đều không trông cậy được. Sau khi huynh thân thiết với Trương Đại học sĩ, có thể xin ông ấy xem giúp chuyện hôn sự của huynh, cố gắng cưới được một tẩu tẩu tốt, giúp huynh quán xuyến việc nhà.”
Kỷ Triệu Phong rốt cuộc vẫn chỉ là thiếu niên một lòng vùi đầu đọc sách, nghe vậy không khỏi đỏ mặt. Chàng biết Kỷ Vân Đồng nói có lý, bèn nghiêm túc gật đầu đáp: “Ta biết rồi, tam muội đã giúp ta quá nhiều. Nếu có thể bái sư thành công, ta nhất định sẽ chăm chỉ theo thầy học tập.”
Kỷ Vân Đồng nhận được lời hứa của chàng, liền bắt tay thu xếp chuyện bái sư cho Kỷ Triệu Phong.
Nàng không chỉ chuẩn bị lễ bái sư, mà còn mời một vị danh sĩ Kim Lăng có giao tình với Trương đại học sĩ đến làm chứng.
Mọi việc thu xếp ổn thỏa, Kỷ Vân Đồng mới để Kỷ Triệu Phong đích thân đến nhà bái sư.
Trương đại học sĩ vốn thật sự chỉ uống say rồi thuận miệng nói một câu, nhưng thấy Kỷ Triệu Phong còn mời cả lão hữu của mình đến làm chứng, ông thoáng ngẩn người, sau đó cười ha hả nói: “Được, được, học trò này ta nhận.”
Đột nhiên bái được một vị danh sư như vậy, thân phận của Kỷ Triệu Phong lập tức lên như diều gặp gió.
Phải biết vị Trương đại học sĩ này từng làm đế sư. Tuy ông tự xin đến Kim Lăng dưỡng bệnh, nhưng người sáng suốt đều nhìn ra, phía kinh sư vẫn hết sức coi trọng ông.
Không ít người lấy làm khó hiểu, chẳng biết Kỷ Triệu Phong gặp vận may chó ngáp phải ruồi gì mà lại được Trương đại học sĩ để mắt tới.
Cũng có vài người biết buổi thi hội đã khiến Kỷ Triệu Phong tỏa sáng rực rỡ, bèn chua chát nói: “Trình độ ấy, đổi lại là ta thì ta cũng làm được.”
Đã nhận được lợi ích thiết thực, người ngoài muốn nói gì về Kỷ Triệu Phong, chàng đều chẳng để tâm. Chàng vui vẻ trở về nhà báo tin mừng cho người thân.
Kỷ đại phu nhân đương nhiên mừng rỡ, chẳng những bày biện cả bàn đầy thức ăn ngon, còn mời Kỷ đại lão gia về nhà.
Kỷ đại lão gia vốn cũng muốn về, nhận được lời mời của thê tử, ông thuận theo bậc thềm mà trở về, hết lời khen ngợi Kỷ Triệu Phong.
Không gặp được đường muội, sau bữa cơm, Kỷ Triệu Phong lén hỏi Kỷ đại phu nhân: “Tam muội đâu ạ?”
Kỷ đại phu nhân đáp: “Con bé nói tháng Chạp năm nay lạnh quá, muốn đến trang viên suối nước nóng mới mua để tránh đông.” Biết Kỷ Vân Đồng đã giúp sức rất nhiều trong chuyện bái sư, Kỷ đại phu nhân đau lòng móc ra một nén bạc đưa cho Kỷ Triệu Phong: “Nếu con nhớ muội ấy thì mua ít đồ ngon mang sang cho muội ấy.”
Còn quần áo trang sức thì Kỷ đại phu nhân không nỡ bỏ tiền.
Sắp đến Tết rồi, những ngày cuối năm thật khó xoay xở!
Kỷ Triệu Phong hiểu rõ chút tiền này căn bản chẳng thể sánh bằng lễ bái sư kia, nhưng chàng cũng biết đại phòng nhà mình túng thiếu đến mức nào, bèn không nói gì. Chàng nhận nén bạc, cảm tạ: “Hài nhi khiến mẫu thân phải bận lòng rồi.”
……
Ở một nơi khác, Kỷ Vân Đồng đã đến trang viên suối nước nóng.
Hiện giờ trong trang viên đã có đủ nha hoàn, bà tử, người hầu và trang hộ, Kỷ Vân Đồng muốn ở lại đây đến tận sau Tết cũng chẳng thành vấn đề.
Buổi trưa, ngâm mình trong làn suối nóng bốc hơi nghi ngút, Kỷ Vân Đồng bắt đầu suy tính sau Tết nên làm thế nào để bước chân vào vòng giao tế của các nữ quyến Kim Lăng.
Người khác đều có trưởng bối dẫn ra ngoài để lộ diện, nhưng mấy vị trưởng bối nhà nàng… thôi, không nhắc thì hơn.
Haiz.
Hay là lại đến bám lấy vị mẹ chồng trước tương lai của nàng, Kiến Dương Trưởng công chúa?
Dù sao hôn ước hiện giờ vẫn chưa giải trừ, vừa hay có thể tranh thủ lợi dụng thêm một lần trước khi Cố Nguyên Phụng hủy hôn.
Nhắc đến Kiến Dương Trưởng công chúa, chuyện ấy cũng thật khó nói hết.
Kiến Dương Trưởng công chúa rõ ràng là tỷ tỷ được đương kim Thánh thượng kính yêu nhất, vốn có thể mở phủ ở kinh sư, sống những ngày tháng an nhàn tự tại; vậy mà nàng lại nhất quyết theo phu quân đến Kim Lăng ở Cố gia, tận tâm phụng dưỡng công bà, đối với người nhà Cố gia rộng rãi đến mức chẳng có giới hạn, bao nhiêu thứ tốt cũng chẳng tiếc của mà đem tặng mấy nhà em trai, em gái chồng.
Thậm chí vì lúc sinh Cố Nguyên Phụng, nàng bị tổn thương thân thể, không thể sinh nở thêm, nàng còn lo liệu chuyện nạp thiếp cho phụ thân Cố Nguyên Phụng.
Nếu không phải đương kim Thánh thượng giận dữ nói hoàng gia không thể mất mặt như vậy, e rằng Cố Nguyên Phụng đã có cả một đống thứ đệ thứ muội.
Kỷ Vân Đồng vốn đã chuẩn bị sẵn tinh thần sau khi vào cửa sẽ ba ngày cãi nhỏ, năm ngày cãi lớn với vị mẹ chồng này. Giờ đây không cần gả cho Cố Nguyên Phụng nữa, nàng mới nhận ra suy nghĩ của mình cũng có vấn đề — tiền của Kiến Dương Trưởng công chúa, người ta muốn tiêu thế nào thì tiêu, liên quan gì đến nàng?
Trong miệng người ngoài, Kiến Dương Trưởng công chúa vẫn là một nữ nhân tốt được người người khen ngợi.
Kỷ Vân Đồng nghĩ ngợi, quyết định thôi vậy.
Đã không định gả vào Cố gia, tốt hơn hết đừng dính dáng đến những người ấy nữa.
Nàng là kẻ ích kỷ tư lợi, tầm thường dung tục, căn bản chẳng cùng đường với hai mẹ con nhà Cố gia.
Đạo bất đồng, bất tương vi mưu!
Kỷ Vân Đồng quyết định nghỉ ngơi một thời gian, sau Tết rồi tính chuyện hôn nhân của mình.
Suối nước nóng không thể ngâm quá lâu, Kỷ Vân Đồng nhanh chóng bước ra khỏi bể. Nàng vui vẻ thay nam trang, chuẩn bị mang lễ vật đến thăm vị thư sinh trẻ tuổi từng gặp mặt một lần.
Kết giao rộng rãi, bắt đầu từ… quân tử chi giao?
Nàng là người nghe lời nhất mà.
--------------------
Ừm, Kỷ cô nương nhà ta, chủ yếu là rất biết nghe lời!
Xuân Nhật Du