Tin tức ấy khiến Đế hậu kinh động. Thánh thượng hoảng hốt nhìn Hoàng hậu, còn Hoàng hậu thì vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, đột nhiên đứng bật dậy: “Thật sao? Quả thực đã mang thai rồi?”
Lăng Tố đáp phải, sắc mặt không đổi, tim chẳng loạn: “Hai hôm trước vừa mới chẩn ra. Vì đúng dịp mừng thọ A da, nhi không kịp bớt chút thời gian bẩm với A nương. Hơn nữa, Thù Thắng nói chuyện này mất mặt lắm, vốn định giấu một thời gian, đợi sau lễ thân nghênh rồi mới bẩm với đại nhân. Nếu không phải đã đến bước đường này, nhi cũng chẳng nói ra.”
Nguyên Hoàng hậu tự nhiên vui mừng khôn xiết, chắp tay hướng ra khoảng trời cao bên ngoài vái lạy: “A Di Đà Phật, cơ nghiệp nhà ta đã thành, vậy mà vẫn chưa có lấy một đứa cháu. Mỗi lần nghĩ tới chuyện này, ta lại sốt ruột. Giờ thì tốt rồi, cuối cùng cũng có hy vọng. Hẳn là liệt tổ liệt tông phù hộ, ban cho ta viên thuốc an lòng.”
Thế nhưng Thánh thượng lại sa sầm mặt, vẫn bất mãn như cũ: “Nếu quả thực là vậy, thế thì giáng xuống làm Lương đệ, rồi chọn người đức hạnh không chê vào đâu được, lập làm Thái tử phi.”
Lời ấy lập tức bị Hoàng hậu phản đối: “Bệ hạ chê triều đường quá yên ổn hay sao, cứ nhất định phải sinh chuyện trong việc này? Sách lập Thái tử phi đâu phải trò đùa. Nay nàng lại có thai, từ Thái tử phi giáng xuống làm Lương đệ, lẽ nào dụng ý ban đầu của Bệ hạ là muốn ép Hữu bộc xạ từ quan?”
Tân triều mới lập chưa lâu, triều chính vẫn cần Tân Đạo Chiêu phò trợ. Cho dù muốn chèn ép môn phiệt, đó cũng là chuyện sau này. Thánh thượng bị nàng chất vấn đến bực mình, cau mày nói: “Trẫm không có ý ép Hữu bộc xạ từ quan, nhưng mang thai trước khi đại hôn, chẳng phải càng chứng tỏ Tân thị đức không xứng vị sao?”
“Bệ hạ chỉ muốn đổi người thôi. Nếu không phải vì muốn đổi người, chuyện này người không nói, ta không nói, ai có thể biết nàng mang thai?” Hoàng hậu thở dài một hơi, lại nói: “Dự tính ban đầu khi dựng hành viên quả thực là để hai đứa trẻ bồi dưỡng tình cảm trước hôn lễ, nhưng xảy ra chuyện này cũng là lẽ thường tình. Đôi trẻ còn non nớt, sớm tối ở bên nhau mà chẳng vượt quá giới hạn, nếu quả thật như vậy, ta mới phải lo lắng! Trước khi đăng cơ, Bệ hạ trưởng thành nơi dân gian. Dân gian còn không cho phép trước khi thành thân đã sinh ra đích trưởng tử, vậy mà Bệ hạ lại muốn giáng Thái tử phi xuống làm Lương đệ. Làm vậy vừa khiến trưởng tôn chịu nhục, vừa làm khó người đến sau. Quý nữ trong Trường An, chẳng ai muốn vừa bước chân vào cửa đã phải làm đích mẫu. Cho dù người được hứa gả là Thái tử, cũng đừng mong người ta tạ ơn.”
Vậy là chuyện này chẳng còn chút khả năng nào để thực hiện nữa sao? Vì đứa trẻ đột nhiên xuất hiện ấy, kế hoạch vốn có cũng phải đảo lộn hoàn toàn.
Trong lòng Thánh thượng vô cùng bất bình, nhưng sự đã đến nước này, không tiện truy cứu quá mức, đành tạm thời như vậy.
Lúc này, ngoài cửa có người vào bẩm báo rằng Ung vương đã đến. Chớp mắt, Lăng Hồi đã bước qua ngạch cửa, hành lễ với người phía trên rồi nói: “A da, nhi đã bắt gọn toàn bộ loạn đảng, đưa vào ngục Đại Lý Tự để tra khảo nghiêm ngặt. Sự tình điều tra được khiến nhi hoảng sợ bất an. Trong đám loạn đảng ấy, có một nửa từng gia nhập Tương quân. Nói cách khác, chuyện Cao Tồn Ý trốn khỏi phường Tu Chân có người trong triều ta đứng sau xúi bẩy.”
Thánh thượng hơi sững lại, vẻ mặt hết sức bất ngờ.
Lăng Tố nhân đó dâng lời cung trên tay lên: “Đây là khẩu cung do quan viên tra án trình lên. Có năm người khai rằng quả thực đã nhận lệnh sai khiến. Còn Thạch Phác, Trung lang tướng Tả Uy vệ, người hôm qua bắt Cao Tồn Ý, cũng đã tiết lộ sự thật với nhi; những người đó đều do hắn sắp đặt. Trước khi sự việc xảy ra, có kẻ lấy cớ đường quan lận đận để dẫn dụ hắn, khiến hắn biển thủ, cướp Cao Tồn Ý ra khỏi phường Tu Chân. Sau đó, kẻ ấy lại tố cáo với Bệ hạ rằng Thập Suất phủ Đông cung cấu kết với cấm quân Bắc nha, vu cho nhi có ý mưu phản.” Nói rồi, hắn lùi hai bước, quỳ xuống: “A da, nhi sinh ra trong Lăng thị, lớn lên dưới tay A da. Mười tuổi nhập ngũ rèn luyện, theo A da vào sinh ra tử, một lòng son sắt. Nay thiên hạ đã định, quyền thế mê hoặc lòng người, nhi ngày càng hoảng sợ, chẳng biết lúc nào sẽ chết dưới miệng lưỡi của kẻ hữu tâm.”
Lăng Hồi ở bên cạnh cũng quỳ xuống, chắp tay nói: “A da sinh ra huynh đệ chúng con. Trên chiến trường, dù phải lấy da ngựa bọc thây, chúng con cũng không nửa lời oán thán. Trưởng huynh có công với xã tắc, khiêm cung nhân hậu, trong quân không ai là không biết. Mong A da đừng nghe lời gièm pha, đừng để trưởng huynh mang tiếng oan, ấy chính là sự thương tưởng dành cho huynh đệ chúng con.”
Lời cung trên tay bỏng rẫy, Thánh thượng rũ mắt nhìn thật lâu, run giọng nói: “Lại có chuyện như vậy…”
Lăng Tố im lặng thoáng chốc, rồi lại nói: “Một tháng trước, A da biết được Cao Tồn Ý từng tặng Tân nương tử một sợi trường sinh kết, A da còn nhớ chứ? Chuyện này hẳn đã khiến A da rất bất mãn? Nhưng sợi trường sinh kết ấy hiện ở trong tay nhi, Tân nương tử ngày đó đã giao cho nhi, chưa từng giấu giếm. Thật ra những chuyện hôm qua, nhi đã sớm dự liệu. Nhi giấu kín không phát tác, cũng là để dẫn rắn ra khỏi hang. Nhi biết chỉ nói suông thì không bằng chứng, chỉ khi bắt được chứng cứ trong tay mới có thể kêu oan với A da, cầu A da trả lại công đạo cho nhi.”
Nguyên Hoàng hậu đứng bên cạnh, chậm rãi nói: “Ngày trước ở đất Bắc, nhà ta cách phủ Bình Lương công không xa. Chàng còn nhớ sáu người con trai nhà Bình Lương công tranh đoạt tước vị, gây ra bao nhiêu chuyện cười không? Chỉ là một nhà công tước nhỏ bé mà đã đấu đá đến vậy, nhà ta là đệ nhất thiên hạ, sau này e rằng chuyện như thế cũng chẳng ít.” Nói rồi, bà nhìn sang Lăng Hồi: “Nhị lang, con có thể hứa với A nương, cả đời phụ tá trưởng huynh, không sinh lòng khác chăng?”
Lăng Hồi dập đầu trước Hoàng hậu: “Nhi hứa với A nương, sẽ lấy trưởng huynh làm đầu, vĩnh viễn không sinh lòng khác.”
Hoàng hậu nói được, rồi lại nhìn Thánh thượng: “Các con trai của ta, ta có thể quyết định thay chúng, nhưng không biết các hoàng tử khác của Bệ hạ có thể một lòng với trưởng huynh hay không.”
Mũi nhọn này đã chĩa thẳng vào Thương vương. Thánh thượng chần chừ một lát, run run tờ giấy trong tay: “Chuyện này… trên đây cũng đâu có lời khai nào liên lụy đến những hoàng tử khác của trẫm. Hoàng hậu vừa rồi còn bảo trẫm đừng nghe lời thiên lệch, vậy còn nàng thì sao? Nghe gió đoán mưa, đầy miệng lời bóng gió, quả thật không thể nói lý!”
Thánh thượng thẹn quá hóa giận, phất tay áo bỏ đi khỏi điện Thần Long, để lại ba mẹ con nhìn nhau không nói. Hoàng hậu bảo cũng phải: “Dù sao, hôn sự hắn muốn hủy cũng chẳng thể hủy được; chúng ta không thể đánh mất cánh tay đắc lực là Tân gia. Nhưng xem ý hắn, dù có bắt được kẻ đứng sau chuyện này, e rằng hắn cũng sẽ nhắm một mắt mở một mắt, qua loa cho xong. Con trâu già cứng đầu này, giờ đây quen thói giả điếc làm ngơ; sự thiên vị dành cho Bùi thị, ngay cả người mù cũng nhìn ra được. Đại lang, trong lòng con phải biết rõ, bước nào cũng cần đề phòng.”
Lăng Tố đáp: “A nương chớ lo, con tự khắc sẽ cẩn thận.”
“Đáng tiếc kẻ truyền lời kia ẩn nấp quá sâu. Nếu bắt được hắn, ắt có thể lần lượt lột trần bộ mặt đen tối của chúng.” Lăng Hồi quay sang nói với Lăng Tố: “Nếu không còn cách nào khác, đệ đi chặt một chân lão tam, dập tắt ý nghĩ của a da, chuyện này cũng coi như kết thúc.”
Lăng Hồi xưa nay có phần lỗ mãng, nghe vậy, Lăng Tố vội trấn an: “Chuyện này đến nghĩ cũng không nên nghĩ. Bọn họ không dùng khổ nhục kế vu oan cho chúng ta đã là may lắm rồi, hà tất tự chui đầu vào lưới?”
Lăng Hồi tức tối hỏi: “Vậy phải làm sao? Cứ thế bỏ qua ư?”
Lăng Tố thở ra một hơi: “Gắng thêm chút nữa, lôi kẻ truyền lời ra. Đến lúc ấy, đưa hắn lên triều, mặc kệ a da có truy cứu hay không, ta cũng phải để bá quan văn võ khắp triều biết rõ chân tướng.”
Một khi chân tướng được phơi bày, dư luận sẽ đứng về phía hắn. Đến lúc ấy, nếu nội loạn lại nổi lên, hắn làm gì cũng là vì tự bảo vệ mình, chẳng ai trách cứ được hắn. Coi như đã tính đến tình huống xấu nhất.
Chỉ là sóng gió tiền triều lại liên lụy đến hậu cung. Lăng Tố áy náy nhìn mẫu thân: “A nương, vì chuyện của nhi tử mà lại khiến a nương chẳng được yên lòng.”
Hoàng hậu cười nói: “Con còn chưa hiểu a nương sao? Ta là người thích an nhàn ư? Giang sơn đã định, ta bị giam chân trong hậu uyển, chẳng thể thi triển quyền cước, đang buồn bực đây.” Dứt lời, bà chợt nhớ đến lời hắn vừa nói: “Chuyện Thù Thắng có thai, là thật sao?”
Lăng Hồi vừa nghe tin này, liền trợn tròn mắt nhìn huynh trưởng, trong mắt tràn đầy vẻ khâm phục.
Lăng Tố ngượng ngùng sờ sờ sống mũi, cân nhắc xem rốt cuộc nên trả lời chuyện này thế nào.
Thấy vậy, hoàng hậu liền hiểu ra: “Lời đã nói ra, không thể nuốt lại. Quay về ta sẽ phái Đại Trường Thu và y giám đến hành viên một chuyến, bắt mạch xác nhận chuyện này trước đã, còn lại…”
Hoàng hậu không nói hết lời. Dẫu sao đây cũng là chuyện trong phòng the của con trai, thân là bậc trưởng bối, bà không tiện nhúng tay; đại lang nếu thông minh, hẳn sẽ biết phải làm thế nào.
Còn Lăng Hồi ở bên cạnh thì như vừa nghe được chuyện lạ, mở mang tầm mắt. Tuy trong quân chẳng thiếu chuyện mới mẻ, nhưng chuyện thú vị liên quan đến huynh trưởng, đây vẫn là lần đầu tiên hắn được nghe.
Hắn đầy vẻ tò mò, nào ngờ lại bị hoàng hậu để mắt đến: “Nhị lang, còn con thì sao? Nếu không chọn được người mình vừa ý, a nương sẽ chỉ hôn cho con đấy.”
Lăng Hồi ngượng nghịu đáp: “Hôm nay chẳng phải đang bàn chuyện của a huynh sao? Con không vội, sau này hãy nói.”
Hoàng hậu nói: “Còn không vội ư? Tam lang đã định hôn rồi, sau này con của nó cũng sẽ ra đời trước con của con.”
“Vậy cứ để nó sinh là được. Mỗi người đều có tước vị riêng, con trai nó đâu cướp được vương vị của con trai con.” Lăng Hồi nói xong, nhếch miệng cười với hoàng hậu.
Hoàng hậu bất đắc dĩ. Con cái lớn rồi, quả nhiên chẳng còn nghe lời nương. Chẳng phải là vậy sao? Bọn họ còn trẻ, chưa hiểu thâm ý trong đó. Hoàng gia coi trọng chuyện gì cũng phải tranh giành; điều bọn họ chẳng để tâm, có lẽ người khác đã bắt đầu tính toán rồi.
***
Thánh thượng rời điện Thần Long, lập tức đi thẳng đến điện Bồng Lai. Điện Bồng Lai nằm sát hồ Thái Dịch; nơi có nước ắt có linh khí, đó là lý do năm xưa Bùi quý phi chọn nơi đây làm tẩm cung.
Dĩ nhiên, đằng sau còn có nguyên do sâu xa hơn. Hoàng hậu ở điện Thần Long thuộc Thái Cực cung, nàng ở điện Bồng Lai thuộc Đại Minh cung; một nơi là “Đông Nội”, một nơi là “Tây Nội”, hai chốn cách nhau một quãng đường, quả có ý không muốn quân vương gặp mặt hoàng hậu.
Địa vị không bằng người ta, vậy thì phải tận dụng phạm vi hữu hạn để khiến quyền lực của mình đạt đến cực điểm. Trong Đại Minh cung, chẳng phi tần nào có phẩm vị cao hơn nàng; ai gặp nàng cũng phải hành lễ. Chỉ cần hoàng hậu không đến, nàng chính là người đứng đầu Đông Nội.
Người ta đều nói kẻ đứng trên đỉnh cao cô độc, nhưng quý phi lại thấy chẳng cần kết đồng minh trong hậu cung. Trước khi thánh thượng đăng cơ, trong nhà có một thê bốn thiếp. Ngoại trừ mẹ ruột của Ung vương đã mất, mẹ ruột của Hàn vương Lăng Cốc là Hồ Thuận Nghi theo hoàng hậu ở Tây Nội; còn Thục phi chuyên sinh nữ nhi sống tại điện Tử Lan. Mấy mỹ nhân, tài nhân mới nạp về sau thì chẳng đáng lo, nàng chỉ cần giữ mối liên hệ mật thiết với mẫu gia là đủ.
Được thánh sủng không suy suốt hơn hai mươi năm, xét một ý nghĩa nào đó, quý phi cho rằng nàng và thánh thượng mới giống phu thê thật sự. Chẳng như Nguyên hoàng hậu, tựa món đồ dùng trong chiến trận, thánh thượng chẳng hề mê đắm bà chút nào. Không làm được hoàng hậu, nàng có đôi phần tiếc nuối, nhưng có con trai thì còn vô vàn khả năng. Chỉ cần lôi kéo được thánh thượng, giữ trái tim ấy thật lâu, rồi sẽ có ngày mẹ con nàng mong được lúc ngẩng đầu. Ai sinh ra đã định sẵn phải mang mệnh thứ xuất kia chứ!
Có điều cầu mong nơi thánh thượng, mỗi lần nghênh đón ngài, nàng đều hết sức nồng nhiệt, tựa như thuở còn trẻ. Ngoài trời lạnh buốt, quý phi chỉ mặc áo ngủ mỏng manh đã bước ra nghênh đón, cười nói: “Thiếp vừa định sửa soạn, bệ hạ đã tới rồi.”
Thánh thượng nhìn nàng một lượt, trách rằng: “Mặc ít thế này, ra ngoài làm gì, kẻo lạnh.” Vừa nói vừa nắm tay nàng bước vào điện.
Trong điện Bồng Lai bốn mùa như xuân, lò sưởi được đốt khắp nơi, hương thơm thoang thoảng thấm vào lòng người, xua tan nỗi bực dọc ngoài kia, khiến thân tâm cũng thư thái theo.
Ngồi xuống giường, nữ sử dâng trà thơm. Bùi quý phi nhận lấy, đưa đến tay thánh thượng, dịu giọng hỏi: “Bệ hạ từ đâu tới? Sao trông người mỏi mệt thế này, đêm qua ngủ không ngon ư?”
Chuyện xảy ra ở lầu Hoa Ngạc, nàng đã sớm biết. Lần này mưu tính không thành, nàng cũng hết sức phiền muộn. Thấy cuốn sách trong tay thánh thượng, nàng thuận thế nhận lấy, đặt sang một bên, đôi mắt dịu dàng nhìn ngài, nghiêng người ngồi xuống cạnh bên.
Thánh thượng thở dài, kể đại khái với nàng chuyện thái tử trình tấu, ngầm có ý răn đe: “Kẻ đứng sau chuyện này gan to bằng trời, mưu toan hãm hại thái tử, cấu kết với Thạch Phác, Trung lang tướng Tả Uy Vệ, bắt Cao Tồn Ý ra khỏi phường Tu Chân.”
Quý phi nghe vậy, lòng chợt giật thót, song sắc mặt vẫn điềm nhiên, “ôi chao” một tiếng rồi nói: “Thiếp không hiểu những chuyện lừa lọc tranh đoạt nơi tiền triều, nhưng xin bệ hạ nghĩ xem, Thạch Phác chẳng phải cựu bộ của Thái tử sao? Nếu giao tình giữa họ sâu đậm, muốn giấu trời qua biển thì có gì khó, bệ hạ nói có phải không?”
Thánh thượng lại im lặng, quay sang nhìn quý phi. Một lúc lâu sau, người mới hỏi: “Sao nàng biết Thạch Phác là cựu bộ của Thái tử?”
Bùi quý phi không khỏi nghẹn lời, vội đáp: “Bệ hạ quên rồi sao? Trước đây từng mở mấy lần tiệc mừng công, thiếp cũng đã gặp Thạch tướng quân.” Trong lòng nàng thầm mừng, may quá, may mà đầu óc xoay chuyển đủ nhanh, nếu không đã để lộ sơ hở.
Thánh thượng quả nhiên không truy hỏi thêm, chỉ chậm rãi gật đầu, vẻ mặt trầm tư.
Quý phi hơi chột dạ, vội chuyển đề tài: “Bệ hạ, thiếp có một chuyện, muốn bàn với bệ hạ.”
Thánh thượng ngước mắt, “ừm” một tiếng: “Chuyện gì?”
Quý phi nói: “Tam lang và Lục nương đính thân cũng đã được một thời gian. Thái Bốc Thự đã trình ngày nghênh thân, xét theo bát tự thì ngày này là thích hợp nhất.” Nàng vừa nói vừa lấy thiếp trình lên: “Xin bệ hạ xem qua.”
Thánh thượng mở ra xem: “Mười tám tháng Giêng?”
Quý phi đáp phải: “Ngày này cũng là vì nể mặt Phòng gia. Đại tướng quân qua tháng Giêng sẽ phụng mệnh đến Sơn Nam đạo, Lục nương lại là đứa con gái ông yêu thương nhất. Ái nữ xuất giá, làm phụ thân ắt phải tận mắt chứng kiến mới yên lòng.”
Thánh thượng lại chau mày: “Trẫm nhớ Thái tử nghênh thân vào ngày mười hai tháng Hai.”
Quý phi nghe vậy mỉm cười: “Thời nay chẳng còn câu nệ những điều ấy nữa. Trật tự trưởng ấu ở trong lòng, đâu phải ở ngày nghênh thân. Chẳng qua vì Đại tướng quân sắp rời kinh, nếu Thái tử biết rõ nguyên do, cũng sẽ không so đo với Tam lang đâu.”
Nàng nói nhẹ tênh, nhưng cửa ải Hoàng hậu e rằng chẳng dễ vượt qua. Một bên là nguyên phối, một bên là sủng phi, Thánh thượng cũng có lúc khó lòng quyết định, bèn nói: “Hôn sự của các hoàng tử đều do Hoàng hậu định đoạt. Đã hỏi ý Hoàng hậu chưa?”
Quý phi đáp: “Vẫn chưa. Thái Bốc Thự vừa mới chọn được ngày, thiếp lập tức bẩm với bệ hạ trước. Chỉ cần bệ hạ chuẩn thuận, bên Hoàng hậu điện hạ sẽ dễ nói thôi.”
Cụm từ “dễ nói” ấy, có thể xem là kết luận quý phi rút ra sau nhiều năm qua lại với Hoàng hậu. Xét về phong độ, Hoàng hậu quả thực khác hẳn những phụ nhân tầm thường; từ ăn mặc đến chi tiêu, dù nàng có đôi chút vượt khuôn phép, Hoàng hậu cũng chẳng so đo. Có lẽ đã nguội lạnh với hôn nhân, Thánh thượng xuất chinh thì đôi ngả chia lìa, trở về lại chẳng thấy bóng người; phần lớn thời gian Thánh thượng đều ở trong phòng nàng, Hoàng hậu dần dà cũng chẳng còn bận tâm. Bởi thế, khi nàng đề nghị muốn ở Đại Minh cung, Hoàng hậu cũng không dị nghị.
Giờ đây chẳng qua chỉ là cần cân nhắc ngày thành hôn của các hoàng tử, cũng chẳng phải chuyện gì to tát. Trong ấn tượng của quý phi, Hoàng hậu không phải hạng người chi li tính toán. Hễ có chuyện bàn bạc với nàng, chỉ đôi ba câu là giải quyết xong, dù sao Hoàng hậu cũng chẳng kiên nhẫn tiếp chuyện nàng.
Đáng tiếc Thánh thượng không nhượng bộ, chỉ nói: “Nàng tự đến gặp Hoàng hậu. Nếu Hoàng hậu đồng ý, cứ theo ngày này mà thu xếp.”
Quý phi có chút thất vọng, nhưng không nản lòng. Đã là Thánh thượng bảo nàng bàn bạc với Hoàng hậu, vậy nàng chính là phụng chỉ mà đi. Đến lúc ấy nên nói thế nào, hoàn toàn tùy nàng định liệu.
Thánh thượng hơi mệt mỏi. Gần đây trời lạnh, đầu cũng thường đau; đau lâu thì đầu óc mơ màng, uống bao nhiêu thuốc cũng chẳng thấy khá hơn.
Thấy người chau mày, quý phi vội bước tới xoa huyệt thái dương. Ngón tay nàng thon thả, lực nặng nhẹ vừa vặn; dù xoa nửa canh giờ, nàng cũng chưa từng than một tiếng mệt.
Muốn giữ được lòng một người đàn ông, chỉ dựa vào nhan sắc đương nhiên là không đủ, nhất định phải có một hai sở trường khiến chàng lưu luyến quên về. Sở trường của quý phi chính là thấu hiểu lòng người.
Thánh thượng nằm xuống. Nàng sai người mang ghế con tới, ngồi trước giường người, dịu giọng nói: “Bệ hạ mệt rồi, hãy chợp mắt một lát. Thiếp sai người chuẩn bị cơm nước, đến giờ sẽ gọi bệ hạ.” Động tác trên tay không hề chậm trễ, cứ nhẹ nhàng ấn day mãi không thôi.
Thánh thượng chìm vào giấc ngủ sâu. Từ khi vào Trường An, mỗi lần chỉ có ở chỗ nàng, người mới ngủ được một giấc yên ổn. Giấc này kéo dài chừng một canh giờ. Sau khi tỉnh dậy, đầu vẫn còn đau âm ỉ, nhưng đã khá hơn nhiều. Quý phi hầu hạ người dùng bữa xong, người mới mãn nguyện trở về điện Tuyên Chính.
Đưa mắt nhìn bóng dáng Thánh thượng khuất sau cửa cung, quý phi quay vào điện thay một bộ y phục khác, rồi sai người chuẩn bị xa liễn, đi thẳng đến điện Thần Long ở Tây Nội.
Khi ấy, Hoàng hậu vừa sắp xếp xong nhân tuyển y giám đến hành viên bắt mạch. Mới ngồi xuống chưa bao lâu, nàng đã nghe người bẩm rằng Bùi quý phi đến.
Sắc mặt Hoàng hậu trầm xuống. Trường Ngự đứng bên cạnh nói: “Lúc này đến, chẳng biết lại giở trò gì đây.”
Quý phi không có việc thì chẳng đến điện Tam Bảo. Mỗi lần đến, ắt đều có mục đích; ngày thường thỉnh an, chưa từng thấy nàng chịu khó lui tới như vậy.
Hoàng hậu vì chuyện Cao Tồn Ý bỏ trốn, đang định tìm người họ Bùi trút giận. Quý phi lúc này lại đâm đầu vào họng súng, chỉ có thể trách nàng không biết điều.
Hoàng hậu ra hiệu, sai người mời quý phi vào. Bùi quý phi bước qua ngưỡng cửa, ngọc bội trên váy khẽ va leng keng; lần nào nàng cũng trang điểm lộng lẫy mà xuất hiện.
Trái lại, Hoàng hậu ăn mặc tùy ý hơn nhiều. Thói quen giản tiện dưỡng thành từ thời ở phương Bắc khiến nàng chẳng đeo trang sức tinh xảo, trừ những dịp trọng đại.
Quý phi nghiêm trang cúi lạy thỉnh an, dịu dàng nói: “Trời lạnh quá. Mấy hôm nay thân thể thiếp không khỏe, không thể đến thỉnh an nữ quân, mong nữ quân thứ tội.” Vừa nói, nàng vừa sai người dâng lễ vật mang theo: “Đây là ống tay giữ ấm thiếp làm lúc nhàn rỗi, da rất tốt, là con mồi Tam lang và mọi người săn được vào thu lần trước. Thiếp nghĩ làm món đồ nhỏ này, khi nữ quân ra ngoài có thể giữ ấm; cũng là chút hiếu tâm của Tam lang.”
Hoàng hậu gật đầu: “Nàng và Tam lang đều có lòng.” Nàng ra hiệu cho Trường Ngự nhận lấy, rồi chỉ chiếc giường ngồi: “Điện Bồng Lai cách điện Thần Long xa như vậy, nàng đặc biệt đến đây, hẳn không chỉ để tặng ống tay giữ ấm chứ?”
Quý phi mím môi cười: “Nữ quân nói gì vậy, thiếp không có việc thì không thể đến thăm nữ quân sao? Vốn thiếp còn định sang thỉnh an Thái hậu, nào ngờ Thái hậu lại cáo bệnh không tiếp khách, lần nào thiếp cũng đến uổng công.”
Thái hậu vốn không ưa nàng từ lâu. Hơn nữa, khi còn ở phương Bắc, lão thái thái từng mắc một trận bệnh nặng. Sau này triều đại mới được dựng nên, người lại được đón từ nơi ngàn dặm xa xôi vào Trường An; dọc đường xóc nảy, bệnh tình cũng có chiều dây dưa, lúc tốt lúc xấu. Bởi thế, đến cả lễ thiên thu của Thánh thượng, người cũng chưa từng tham dự.
Nói đến vị Bùi quý phi này, cho dù đến tận hôm nay, nàng ta vẫn gọi Hoàng hậu là “nữ quân” hết tiếng này đến tiếng khác, chưa bao giờ xưng Điện hạ. Có lẽ là để tỏ lòng hoài niệm, chẳng quên thuở ban đầu, hoặc cũng có ý muốn khác biệt với những cung quyến khác trong hậu cung.
Hoàng hậu chẳng buồn để tâm đến chút tâm tư ấy, chỉ nhàn nhạt nói: “Thân thể Thái hậu cần điều dưỡng, vẫn không nên kinh động người. Đợi qua mùa đông năm nay, sang năm sẽ khá hơn thôi.” Nói rồi, nàng nhận lấy chén nước, chậm rãi nhấp từng ngụm, cũng chẳng vội dò hỏi ý định chuyến này của quý phi.
Bùi quý phi thấy nàng không hỏi han, rốt cuộc cũng ngồi không yên, nhích người, bảo người dâng thiếp lên trước mặt Hoàng hậu. Nàng lần lượt giãi bày những điều bất đắc dĩ, cuối cùng ngước mắt dò xét sắc mặt đối phương, cẩn thận thưa: “Bệ hạ đã chuẩn thuận, giờ chỉ còn chờ nữ quân định đoạt.”
Phong Nguyệt Thú