Còn chuyện có nên nghĩ cách để Ngũ huynh bớt gánh nặng hay không, nàng chẳng hề nghĩ đến.
Chuyện này mới đến đâu chứ? Cứ kéo dài thêm ít nhất hai tháng, người ta tự thấy vô vị, không đợi hắn nữa, vậy là coi như giải quyết xong.
Việc lớn tiếp theo của Cư Thượng chính là mong được lên vùng ngoại ô săn bắn. Thời tiền triều, mỗi năm đều tổ chức thu săn. Nàng theo Tồn Ý, trà trộn giữa đám con cháu hoàng tộc, bình thường khi mọi người không chơi mã cầu, đối với nàng vẫn rất khách khí. Nay tiền triều đã mất, cảnh còn người đổi, nàng chẳng biết người phương Bắc săn bắn sẽ ra sao. May thay, tài bắn cung của nàng đã tiến bộ, không sợ mất mặt trước đám người ấy.
Trước ngày lên đường, nàng thử sức bằng cách bắn mấy đống rơm. Chập tối, đứng trong sân kéo cung ngắm đích, chỉ nghe “vút” một tiếng, mũi tên trúng ngay giữa trán. Các tỳ nữ và nữ sử bên cạnh vỗ tay khen hay, ngay cả Phó mẫu cũng khen nàng văn võ song toàn, rất có phong thái của Hoàng hậu điện hạ năm xưa.
Cư Thượng khiêm nhường mỉm cười: “Đều nhờ Thái tử điện hạ dạy bảo tốt.”
Lăng Tố vừa tan trực nghe thấy câu ấy, giữa đôi mày đang hơi nhíu thoáng giãn ra. Hắn bước vào cổng vườn, đứng sang một bên quan sát trước. Thấy động tác nàng chuẩn xác, chẳng còn chỗ nào cần sửa, lúc ấy mới lên tiếng: “Thời gian đã định rồi, là ngày mai. Ngày mai vừa hay được nghỉ tuần, huynh đệ tỷ muội trong tộc đều sẽ tham dự.”
Tiết trời thu vàng, ra ngoài săn bắn du ngoạn là thích hợp nhất. Cư Thượng đáp được, rồi hỏi: “Lang quân đã mời Bành Thành quận vương chưa? Nhị nương nhà thiếp vừa định thân với chàng ấy.”
Tin Độc Cô Nghi định thân với Tân gia, hắn đã nghe từ lâu. Đã là người một nhà sau này, dịp thế này ắt không thể quên mời chàng ta, bèn gật đầu: “Đã sai người đến báo rồi. Nếu chàng ấy có lòng, sẽ đưa Nhị nương cùng tới.”
Nói đoạn, ánh mắt hắn khẽ chuyển, thản nhiên cười: “Báo nàng một tin tốt.”
Cư Thượng mân mê cung tên, khẽ “ừ” một tiếng, thuận miệng đáp: “Lang quân thì có tin tốt lành gì chứ?”
Câu này nghe cứ như thể hắn chỉ biết mang đến tin dữ vậy.
Nhưng nghĩ lại, chuyện này đối với nàng quả thực chẳng phải tin tốt, thậm chí có thể khơi lên một chuỗi đau lòng. Nghĩ đến đây, hắn càng vui vẻ: “Lăng Tồi định thân rồi, ngay hôm qua, với tiểu nương tử nhà Đậu Hiếu Đoan, Tế tửu Quốc Tử Giám. Nàng nghe nói chưa?”
Giọng hắn bình thản, đôi mắt lại chăm chú nhìn nàng, cố tìm trên gương mặt nàng dù chỉ một thoáng đau buồn. Kết quả là chẳng có gì.
Nàng chỉ hơi ngẩn ra: “Thanh Hà Đậu thị ư… Đúng là môn đình danh giá. Tiểu nương tử được nuôi dạy trong nhà ấy, ắt hẳn chẳng có điểm nào chê trách.”
Biết rõ hắn đang chờ xem nàng thất thố để chê cười, Cư Thượng lại càng không để hắn được như ý. Nàng kẹp tên lên dây cung, buông dây một cái, mũi tên “vút” bay đi, chuẩn xác xuyên giữa chân mày hình nộm rơm.
Tài bắn cung của nàng tiến bộ vượt xa dự liệu của hắn. Có điều, đôi khi cơn giận cũng có thể hóa thành động lực. Xem ra cú đả kích này không nhỏ.
Hắn cười, không nói thêm lời nào, nghiêng người đón ngọn gió chiều thổi qua bên tường.
Cư Thượng thầm nghĩ, người này quả thật đáng ghét, đã chọc đúng chỗ đau của nàng, sao còn chưa chịu đi! Tiếc rằng nàng không thể đuổi hắn, đành lén liếc nhìn một cái. Hắn mày giãn mắt sáng, đứng đón gió. Ráng chiều nhuộm lên gấm vóc quanh thân hắn, chỉ riêng dáng đứng nơi ấy đã có khí thế nắm trọn thiên hạ.
Đáng tiếc, dung mạo thì đẹp, con người lại đáng ghét. Cư Thượng tùy tiện bắn thêm một mũi, rồi giao cung cho nữ sử, cởi tay áo xuống: “Luyện nửa ngày rồi, mệt quá, ta về nghỉ đây.”
Nàng không còn tâm trí đâu để bận lòng đến Lăng Tố, xoay người trở về viện mình.
Vừa vào cửa, nàng đã ngã xuống giường, thở dài một tiếng. Bạch nguyệt quang của nàng định thân rồi. Dẫu biết sớm muộn gì cũng có ngày này, nhưng bất chợt nghe tin, nàng vẫn có chút đau lòng.
Dược Đằng hiểu nàng nhất, kéo chiếc giường xếp lại ngồi trước giường, chống cằm hỏi: “Tiểu nương tử thấy trống trải ư?”
Cư Thượng quay đầu nhìn nàng ấy: “Trống trải chứ. Thế tử Triệu vương định thân rồi.”
Dược Đằng nói: “Thôi nào, tiểu nương tử định thân với chàng ấy còn sớm hơn. Chàng ấy nhất định cũng từng trống trải như người lúc này, thế là huề nhau.”
Cư Thượng thở dài: “Định thân với Thanh Hà Đậu thị, mối hôn sự này rất tốt.”
Đến đây nàng cũng xem như rộng lòng. Bạch nguyệt quang cưới người khác, nàng bèn nảy ra tấm lòng bác ái, thay chàng cân nhắc gia thế đối phương, xem có làm thiệt thòi Lăng Tồi tốt đẹp đến thế hay không.
Dược Đằng gật đầu: “Lăng thị muốn kết thân với tứ đại thế gia. Bỏ lỡ tiểu nương tử thì vẫn còn ba nhà khác. Đậu thị chẳng kém nhà ta, biết đâu Đậu nương tử còn dịu dàng hơn, đáng yêu hơn, trẻ trung hơn tiểu nương tử.”
Nói đến mức Cư Thượng tức nghẹn, phồng má hỏi: “Dược Đằng, răng ngươi còn đau không?”
Dược Đằng ngẩn ra, theo bản năng ôm lấy má phải.
Có chút hụt hẫng cũng là lẽ thường tình. Cho dù nàng đã có hôn ước với Thái tử, cũng chẳng ngăn được nàng một lòng chia hai, âm thầm nhớ thương.
Nàng trở mình, thở dài. Ngày mai nhất định phải tỏ ra rộng rãi đoan trang, gặp mặt chàng rồi nói một câu chúc mừng… Ôi, Cư Thượng buồn bã ôm mặt, lần đầu kỳ lạ cảm nhận được nỗi đau thất tình. Nỗi đau ấy chẳng thể cảm nhận từ Thái tử, đành phải mượn người khác mà trải qua, cũng coi như qua loa hiểu được thất tình lục dục trên đời.
Ngủ một đêm, tâm tình nàng đã không còn tệ đến thế. Sáng hôm sau thức dậy, nàng chuẩn bị lên đường. Cư Thượng mặc bộ hồ phục mới may, nhảy lên con ngựa đỏ nâu của mình, dáng vẻ nữ lang cũng chẳng kém phần hiên ngang như nam nhi.
Lăng Tố đánh giá nàng một lượt, trong lòng thầm hài lòng. Xét về dung mạo và phong thái, Thái tử phi của hắn tuyệt đối không ai sánh bằng.
Thật ra hắn cũng chẳng phải kẻ nông cạn đến thế. Hắn vẫn luôn cho rằng nội tâm nữ lang quan trọng hơn vẻ bề ngoài. Dĩ nhiên, nếu có thể vẹn toàn cả bên ngoài lẫn bên trong thì càng tốt. Cư Thượng không nghi ngờ gì có đủ cả hai, cho nên đưa nàng dự những dịp thế này, hắn vừa không phải lo lắng gì, lại có cảm giác được nở mày nở mặt.
Đội Dực vệ đông đảo cùng thân vệ Thái tử mở đường. Ra khỏi cửa Xuân Minh, đi về phía nam có một bãi săn. Thời tiền triều, nơi ấy chuyên nuôi thú săn để hoàng tộc tiêu khiển. Sau khi triều đại mới lập nên, khu rừng ấy do Điển Mục Thự cai quản, được quản lý quy củ hơn tiền triều, đồng thời còn thả vào rất nhiều loài thú mới lạ. Dù sao, người phương Bắc săn bắn cũng là một hình thức tranh tài, chẳng giống quý tộc tiền triều, săn được hai con thỏ, một con cáo đã xem như thắng lợi trở về.
Tân Cư Thượng phe phẩy roi ngựa, mặc ngựa thả bước thong dong. Vô tình ngoảnh đầu nhìn lại, nàng chợt thấy trong đội ngũ chẳng biết từ khi nào đã có thêm hai con báo to lớn. Hai đôi mắt vàng óng đồng loạt nhìn sang, khiến nàng giật nảy mình.
Nàng hít ngược một hơi, kinh ngạc hỏi Lăng Tố: “Báo này từ đâu ra vậy?”
Lăng Tố chẳng mảy may để tâm: “Ta nuôi riêng để đi săn.” Vừa nói, hắn vừa quan sát sắc mặt nàng, “Sao thế, nàng sợ à? Người Trường An đi săn, chẳng lẽ không dùng báo?”
Lời vừa thốt ra, tựa như đám quyền quý Trường An đều thành nhà quê cả. Tân Cư Thượng đành gắng giữ thể diện, ngẩng cổ nói: “Đương… đương nhiên là có dùng, chỉ là ngày thường không nỡ thả chúng ra thôi.”
Nàng ngượng ngùng không nói thật rằng trước đây, khi có ý đi săn, bọn họ thường dùng linh miêu. Linh miêu nhỏ hơn báo rất nhiều, sức sát thương cũng chẳng đáng kể, chủ yếu săn bắt những con mồi nhỏ. Lần này bỗng dưng xuất hiện hai con vật to lớn, đôi mắt sáng rực, trên mình phủ hoa văn như đồng tiền, thoạt trông đã chẳng dễ chọc. Nếu chẳng may xảy ra chuyện, e rằng chúng sẽ nhào vào người.
Tân Cư Thượng quay người lại, lặng lẽ cất roi ngựa trong tay. Nàng chưa từng nuôi báo, nhưng đã từng nuôi mèo. Mèo đặc biệt thích những chiếc que nhỏ đung đưa như thế này; lỡ hai con kia tưởng nàng đang trêu chúng, e rằng nàng sẽ bị gặm đến chẳng còn mẩu xương nào.
Thấy nàng bỗng chốc trở nên quy củ, chẳng còn vẻ phóng khoáng tung hoành trên lưng ngựa, Lăng Tố liền biết nàng đang sợ điều gì.
Hắn không khỏi bật cười khẽ. Nàng tưởng chừng trời chẳng sợ đất chẳng sợ, hóa ra cũng có lúc lộ vẻ khiếp đảm. Hắn bèn lớn tiếng trấn an: “Tiểu nương tử đừng sợ. Hai con báo nô này ta nuôi từ nhỏ, còn nghe lời hơn cả trẻ con, sẽ không làm nàng bị thương đâu.”
Tân Cư Thượng lại ngoảnh đầu nhìn, thấy hai con báo đều đeo vòng cổ, có người chuyên trách dắt đi. Đồng tử hung dữ tuy vẫn trừng trừng nhìn người, nhưng vẻ mặt dường như khá thân thiện, nàng mới tạm thời thở phào, lẩm bẩm: “Người phương Bắc quả thật dũng mãnh, con báo to thế này mà cũng dắt thẳng ra phố.”
May mà phía trước càng đi càng thưa người, không cần lo báo sẽ làm hại người vô tội. Những người cưỡi ngựa cuối cùng cũng có thể tung vó phi nhanh. Roi vừa vung lên, nàng đã lao vút đi như tên rời dây cung.
Tân Cư Thượng đã lâu không cưỡi ngựa phi nước đại. Nàng vỗ mông Đàn Nô, con ngựa đỏ táo lập tức tung vó chạy như bay. Nàng cúi thấp người, hờ hững ghìm cương. Tuy không đuổi kịp ngựa Kiểu Tuyết của Lăng Tố, tốc độ cũng chẳng hề kém cạnh.
Ngựa của Lăng Tố từng trải qua những trận đại chiến, toàn thân trắng như tuyết, không có lấy một sợi lông tạp, vì thế mới được đặt tên là Kiểu Tuyết. Cánh đồng ngoại ô rộng mở mới là chốn để thần mã tung hoành, còn đường sá trong phường thành Trường An đối với nó chẳng khác nào dùng dao mổ trâu giết gà. Có lẽ Lăng Tố phát hiện nàng sắp đuổi kịp nên lại nổi lòng hiếu thắng, khẽ quát một tiếng. Kiểu Tuyết lập tức tung vó chạy như bay, chớp mắt đã chẳng còn thấy bóng dáng.
Đến lúc này, Tân Cư Thượng mới nhận ra khoảng cách giữa hai bên. Cũng đành chịu, điều kiện bẩm sinh đã vậy, không thể trách Đàn Nô.
Nàng vỗ cổ Đàn Nô, đón gió lớn tiếng nói: “Không sao, chúng ta cứ thong thả mà chạy, chẳng cần so với người ta.”
Nhưng Đàn Nô là một con ngựa có khí phách, chẳng chịu khuất phục, tung vó chạy lộc cộc. Tân Cư Thượng vô cùng cảm động: Có chí hướng thì không phải ngựa vô dụng. Thế nhưng khóe mắt nàng liếc qua, chợt thấy hai con báo nô từ phía sau vượt lên. Thân hình uyển chuyển, tốc độ cực nhanh, chỉ trong chớp mắt đã đi xa mấy dặm.
Hóa ra Đàn Nô cứ vừa chạy vừa gật đầu là vì sợ hai con báo kia. Nàng nghĩ, ngựa quả nhiên hiểu lòng người, cùng nàng phân biệt yêu ghét như một, nàng cũng sợ báo.
Mặc kệ bọn họ muốn chạy thì chạy, Tân Cư Thượng quyết định chẳng buồn chấp nhặt. Trời thu trong trẻo, thong dong thưởng ngoạn phong cảnh dọc đường cũng không tệ.
Lăng Tố ở phía trước chẳng biết có phải lương tâm chợt thức tỉnh hay không, vậy mà lại giảm tốc độ, kéo cương để Kiểu Tuyết bước những bước nhỏ lóc cóc. Trên mặt hắn mang theo ý cười kiêu hãnh: “Tiểu nương tử, nàng chọn ngựa không tốt.”
Tân Cư Thượng chẳng phục: “Đàn Nô của ta là nữ lang, đâu phải hán tử thô lỗ, chỉ biết cắm đầu chạy bừa.” Nàng khinh thường bĩu môi: “Chàng cứ chạy đi, đợi ta làm gì?”
Lăng Tố cũng chẳng so đo với nàng, quay mắt nhìn dãy núi xa xa, thong thả nói: “Ta sợ nàng lạc đường. Tiểu nương tử ở bên cạnh ta lâu như vậy, nếu một ngày nào đó bỗng dưng không thấy nàng, ta sẽ không quen.”
Nếu đổi lại là một nữ lang bình thường, nghe lời này ắt hẳn sẽ đỏ bừng khuôn mặt, vừa thẹn thùng vừa e ấp. Nhưng đáng tiếc, Lăng Tố lại gặp phải Tân Cư Thượng. Nàng nói: “Đùa à, trong ngoài Trường An ta còn quen thuộc hơn chàng nhiều. Chàng là người phương Bắc đến, lại lo ta lạc đường, đúng là lo bò trắng răng!” Nói đoạn, nàng vỗ Đàn Nô, hô một tiếng “Giá!”, rồi phóng ngựa chạy đi.
Chút dịu dàng hiếm hoi mà Lăng Tố khó khăn lắm mới dồn nén được đã bị nàng vô tình ném xuống đất giẫm đạp. Đợi hắn đuổi kịp nàng, hai người đã tiến vào phạm vi bãi săn.
Theo lệ thường, bên rìa bãi săn đã dựng lều lớn để nghỉ ngơi. Nội thị Đông Cung chuẩn bị chu toàn mọi vật dụng, chỉ đợi khách khứa tới.
Khi Lăng Tố và Tân Cư Thượng đến nơi, Thương vương và Lục Nương đã có mặt. Hai người đang ở bên trong ăn điểm tâm, nghe tiếng vó ngựa bèn vội vàng ra đón.
“Đại ca, sao giờ này huynh mới tới?” Thương vương khoác ánh ráng ban mai, trên mặt nở nụ cười thật tươi, vừa chắp tay với Tân Cư Thượng vừa nói: “Đại tẩu, lần trước trong tiệc Trung thu, đệ không có dịp chào hỏi đại tẩu, mong đại tẩu thứ tội.”
Ấn tượng của Tân Cư Thượng về Thương vương vốn luôn là một người khá tùy ý. Hắn cứ một tiếng “đại tẩu”, hai tiếng “đại tẩu”, gọi đến mức khiến người ta chấn động.
Tân Cư Thượng mỉm cười: “Đại vương quên rồi sao, ta vẫn chưa thành thân với Thái tử điện hạ.”
Thương vương cười đáp: “Hai người đã định thân, chỉ còn thiếu hôn lễ thôi. Gọi đại tẩu nghe thân thiết hơn, chứ cứ gọi Tân nương tử thì xa cách quá.”
Tân Cư Thượng vốn chẳng phải người nhỏ nhen, chẳng qua chỉ là một cách xưng hô, hắn thích gọi thì cứ gọi.
Thế nhưng có qua có lại, chẳng bao lâu sau, Lăng Tố đã thay nàng đòi lại công bằng. Thấy Lục Nương hành lễ với mình, hắn bảo nàng miễn lễ: “Hôm nay huynh mở tiệc săn, mời mọi người đến tụ họp. Đệ muội không cần câu nệ, dù sao cũng đều là người một nhà. Có điều gì bất tiện thì cứ nói với Tân nương tử, đừng ngại.”
Lần này, Thương vương và Lục nương đều đỏ bừng mặt. Còn Cư Thượng thì cười vang. Những người trẻ vừa mới đính thân này đúng là da mặt mỏng. Dạo trước Lục nương còn oán Thương vương chẳng mấy khi nói chuyện, trông dáng vẻ hai người lúc này, vẫn chưa thể coi là thân thiết. Chư vương hầu không có lệ dựng hành viên để đôi bên sớm làm quen, đột nhiên kéo gần quan hệ như vậy, hẳn họ càng thêm không được tự nhiên.
Đang nói cười, khách khứa được mời bên ngoài lần lượt tới, ai nấy đều có đôi có cặp. Phái Quốc công chúa từ đằng xa đã vẫy khăn tay với Cư Thượng, lớn tiếng gọi: “Tân nương tử, ta mong nàng suốt mấy ngày nay, sao không đến phủ ta ngồi chơi?”
Hôm Trung thu ấy, mọi người gặp nhau chỉ mải khách sáo, Cư Thượng chẳng để tâm chuyện đó. Hôm nay nàng nhắc lại, dẫu vẫn là lời khách sáo như thường, nàng cũng phải đáp lễ cho ra vẻ: “Ôi, mấy ngày nayPhó mẫu sắp xếp cho ta không ít bài học, ta bận đến nỗi phân thân chẳng kịp, thành ra phụ tấm lòng quý chủ. Đợi thêm hai ngày nữa nhé, chúng ta hẹn lại ngày giờ, cùng nhau uống trà.”
Lục Quan Lâu đi cùng bên cạnh chắp tay thi lễ với nàng, nàng cũng khách sáo đáp lễ. Vừa quay đầu lại, nàng đã trông thấy Lăng Tồi dẫn vị nương tử Đậu gia chạy tới.
Lăng Tồi thì khỏi phải nói, vẫn chu đáo tỉ mỉ như thường, còn quay người đỡ Đậu nương tử xuống ngựa. Cư Thượng chăm chú nhìn vị Đậu nương tử ấy đôi ba lượt. Thật ra trước đây nàng từng gặp người này trong những buổi tiệc của các nhà quyền quý trong thành, chỉ là chẳng thân quen. Vị tiểu nương tử ấy vóc dáng cao gầy, gương mặt hiền hòa, đoan trang, đứng bên cạnh Lăng Tồi quả rất xứng đôi.
Hai người sánh bước vào trướng, mọi người lần lượt chào hỏi. Trước kia, mỗi lần nhớ đến thế tử Triệu vương, lòng Cư Thượng lại chua xót, nhưng thật kỳ lạ, gặp người rồi dường như nàng chẳng còn cảm thấy gì nữa. Trái lại, nàng chân thành cho rằng Đậu nương tử rất tốt, dung mạo xuất chúng, lại phóng khoáng đường hoàng. Người như thế kết duyên với Lăng Tồi, xem ra ngày tháng sau này nhất định sẽ êm ấm hòa thuận.
Dù sao chỉ cần êm ấm hòa thuận là được, tân nương không phải nàng cũng chẳng sao.
Còn Lăng Tố vẫn luôn quan sát kỹ vẻ mặt nàng, dù chỉ một thoáng bối rối cũng không thoát khỏi mắt hắn. Nhưng nhìn hồi lâu, hắn nhận ra nàng quả thật đang vui mừng. Có lẽ Lăng Tồi vẫn sẽ đau lòng vì bỏ lỡ, còn Cư Thượng đã hoàn toàn bước ra ngoài cõi tục, khiến Lăng Tố gần như nghi ngờ ánh mắt tình tứ nàng trao cho hắn trong tiệc nhà Triệu vương hôm ấy là giả vờ.
Chẳng lẽ nàng cố ý dụ mình mắc câu? Nghĩ vậy, hắn nhận ra nữ lang này chẳng hề đơn giản. Dưới vẻ hào sảng kia là một tâm cơ tinh tế chẳng kém gì gương mặt nàng.
Cư Thượng chẳng bận tâm Lăng Tố có bao nhiêu tâm tư. Nàng nhìn ra ngoài, trông thấy một nam tử dẫn thân quân tới, bên cạnh không có nữ lang nào đi cùng. Nhìn kỹ thì nàng đã gặp người này đôi lần, hẳn là Ung vương Lăng Hồi. Mày mắt chàng ta không giống Lăng Tố; đường nét góc cạnh rõ rệt, gương mặt cũng lộ vẻ hung hãn, vừa nhìn đã biết chẳng phải người dễ gần.
Nàng từng nghe a da kể về thân thế của vị Ung vương này. Mẫu thân chàng ta vốn là tỳ nữ trong phủ, sau khi sinh chàng thì lâm bệnh qua đời. Ung vương được Hoàng hậu nuôi nấng trưởng thành. Có lẽ vì xuất thân, Ung vương dũng mãnh hơn người thường, cũng nóng lòng muốn chứng tỏ bản thân hơn; tình nghĩa giữa chàng ta và Thái tử thân thiết hơn cả hai huynh đệ còn lại.
“Ung vương vẫn chưa đính thân sao?” Cư Thượng tò mò hỏi.
Lăng Tố chắp tay sau lưng, đáp: “Chưa gặp người thích hợp, không cần vì đính thân mà đính thân.”
Hắn vừa dứt lời, Lăng Hồi đã đến trước mặt, chắp tay gọi một tiếng a huynh, rồi chuyển mắt sang Cư Thượng. Trên gương mặt nghiêm nghị cố nặn ra chút ý cười: “Tân nương tử hữu lễ.”
Chàng ta không gọi thẳng nàng là tẩu tẩu như Thương vương, Cư Thượng bèn sinh thêm mấy phần thiện cảm, mỉm cười nói: “Trước đây từng gặp mấy lần, tiếc là chưa có dịp kết giao.” Nàng vừa nói vừa khẽ cúi mình, “Đại vương hữu lễ.”
Lăng Hồi vốn không giỏi ăn nói, nhất là trò chuyện với nữ lang, còn vụng về hơn cả Lăng Tố. Gương mặt rõ là nghiêm nghị, vậy mà bị nữ lang nhìn một cái đã đỏ mặt, chàng ta vội kéo Lăng Tố sang một bên, thấp giọng bàn chuyện Tiết độ sứ Qua Châu với hắn.
“A huynh có cần đệ đến Qua Châu một chuyến không? Con lừa mù Từ Tự Độ kia, trước mặt người ta thì nói lời hay, sau lưng lại giở trò âm độc. Đệ đến Qua Châu giết chết hắn, tiện thể thu nạp quân Qua Châu, một công đôi việc.”
Lăng Tố lại nói không cần vội: “Người đứng sau Sa Bảo của thương đội đã lộ diện, có kẻ còn sốt ruột hơn chúng ta. Ta muốn thả dây dài câu cá lớn. Rốt cuộc là dư nghiệt tiền triều hay gian đảng trong triều, sớm muộn gì cũng sẽ rõ.”
Lăng Hồi nghe vậy, đành gật đầu. Quay sang thấy Cư Thượng đang trò chuyện với mấy vị nữ lang, trên gương mặt rạng rỡ, vừa nhìn đã biết là cô nương sống dưới ánh mặt trời.
“A huynh đính thân rồi, có vui không?” Lăng Hồi hỏi, “Tân nương tử từng được hứa gả cho Cao Tồn Ý của tiền triều, mà Cao Tồn Ý vẫn còn sống, nàng ấy không nhớ thương hắn sao?”
Nhắc đến chuyện này, Lăng Tố đưa tay xoa trán: “Nàng nhớ thương Cao Tồn Ý, nên Cao Tồn Ý nhất định phải sống. Nếu hắn chết, ta sợ nàng sẽ là người đầu tiên không tha cho ta. Những chuyện khác ta chẳng sợ, chủ yếu là người chung gối sau này lúc nào cũng hận ngươi, nguy hiểm lắm.”
Lăng Hồi càng nghe càng không hiểu: “Người cũ của tiền triều, nếu không được thì đổi một Thái tử phi khác.”
“Nàng không phải người cũ, cũng chưa từng đính thân với Cao Tồn Ý, chẳng qua chỉ được nhắc đến trong lời ăn tiếng nói mà thôi. Nếu tùy tiện mấy câu đùa cợt cũng tính là thật, e rằng ta đã cưới không dưới mười nữ lang rồi. Hơn nữa, Thái tử đính thân không phải chuyện nhỏ, làm rình rang lên thì rất phiền phức. Để bớt phiền, hôn sự đã định thì cố gắng đừng thay đổi, mọi người đều được yên lòng.” Hắn nói rồi bất đắc dĩ ngước mắt nhìn Lăng Hồi, “Chẳng phải đệ hỏi ta sau khi đính thân có vui không sao? Cũng chẳng vui lắm, dù sao vẫn náo nhiệt hơn trước.”
Về tình cảm, hiển nhiên Lăng Hồi còn cứng nhắc hơn hắn, thẳng thừng nói: “A huynh thích hậu viện náo nhiệt sao? Chuyện này còn không đơn giản, ngày mai đệ nghĩ cách đưa mấy nữ lang đến cho huynh.”
Lăng Tố nghe vậy thì giật mình, vội nói không cần: “Một người ta đã ứng phó không nổi, thêm mấy người nữa chẳng phải mất mạng sao?” Hắn còn nghiêm chỉnh khuyên răn huynh đệ: “Thiên hạ vừa mới định yên, tuyệt đối không được nghĩ đến chuyện hoang dâm. Hai ta thân là hoàng tử, càng phải tự trọng tự xét.”
Bên kia, Cư Thượng nghe tiếng ngựa hí, lo người hầu chưa buộc chắc Đàn Nô, bèn đứng dậy ra ngoài trướng xem xét. Nàng đi một vòng, kiểm tra dây cương cho kỹ rồi quay về. Vừa ngước mắt lên, nàng đã thấy Lục Quan Lâu đứng một mình ở nơi cách đó không xa, đang nhìn nàng.
Dù sao nàng cũng chẳng còn lời nào để nói với hắn, bèn khẽ gật đầu, định lướt qua. Nào ngờ hắn chợt gọi một tiếng: “Tiểu nương tử, có thể cho ta nói đôi câu chăng?”
Hàng mày Tân Cư Thượng chậm rãi nhướng lên, thầm nghĩ: Sao đây, ngày tháng sau khi thành thân quá đỗi yên bình, nên tìm nàng ôn chuyện cũ ư? Hay là lo sau này nàng sẽ gây khó dễ cho hắn, nên định hóa giải hiềm khích trước kia?
Nghĩ đến đây, nàng quay người lại, mỉm cười nói: “Người quen cũ cùng bước vào một nhà, sau này ngày ngày ngẩng đầu chẳng gặp thì cúi đầu cũng gặp. Phò mã không cần nói nữa, ta biết chàng rất kinh ngạc.”
Phong Nguyệt Thú