Phong Nguyệt Thú

Chương 1: Phiệt Duyệt

Đêm tối đặc quánh, sao trời giăng kín. Vầng trăng non mảnh như sợi dây đã sớm khuất bóng, vậy mà ngọn lửa chiến tranh bùng cháy trong thành Trường An lại rọi sáng nửa vòm trời.

Cánh cửa song thẳng hé ra một khe, tiếng vó ngựa lẫn trong tiếng gió cùng những tiếng kêu la khóc lóc hỗn loạn, sốt ruột tràn vào trong phòng. Gia bộc canh cửa thò đầu vào, hoảng hốt bẩm báo: “Phản quân đã xông vào phường Gia Hội, áp giải Tĩnh vương cùng gia quyến đi rồi!”

Phường Gia Hội và phường Đãi Hiền chỉ cách nhau một con đường thẳng. Lên lầu nhỏ ở hậu viện, có thể trông thấy toàn cảnh phủ đệ Tĩnh vương.

Ánh đèn soi rõ gương mặt của một phòng nữ quyến, ai nấy đều hoảng hốt bất an.

Dương phu nhân gắng trấn định, phất tay dặn: “Canh giữ cửa lớn thật chặt, tuyệt đối không được để người ngoài xông vào.”

Thật ra mọi người đều biết, vó ngựa sắt của phản quân đã giẫm nát cửa thành từ lâu. Chỉ một cánh cửa phủ nhỏ nhoi, sao có thể ngăn nổi thiên quân vạn mã?

Gia bộc cắn răng vâng dạ, rồi lui ra ngoài lần nữa. Tiếng bước chân vội vã dần xa, trong sân lặng ngắt như tờ, chỉ có những tiếng hò hét liên miên bất tuyệt từ xa vọng lại, theo gió khi cao khi thấp, quẩn quanh khắp bốn phía.

Phong Ninh công chúa vẫn chưa hoàn hồn, bắt đầu nức nở. Tĩnh vương là thúc phụ của nàng, một vị vương gia nhàn tản, thường ngày chẳng tham chính, cũng chẳng cầm binh, thú vui lớn nhất chẳng qua là mỹ nhân và chọi gà. Dẫu vậy, ông vẫn bị đại quân của Lăng Tùng Huấn bắt giữ.

Dù sao mỗi phen thiên hạ đại loạn, người sinh ra trong đế vương gia đều khó tránh khỏi tai ương. Phủ Tĩnh vương ngay trước mắt, kế tiếp e rằng sẽ đến lượt nhà nàng.

“Mẫu thân…” Phong Ninh công chúa níu lấy tay áo Dương phu nhân, “Thân quân của bệ hạ đâu? Kim Ngô vệ trấn giữ thành trì đâu? Sao lại để mặc đám nghịch tặc hoành hành trong thành?”

Dương phu nhân bất lực nhìn công chúa, chẳng nói lời nào.

Năm xưa công chúa hạ giá gả cho trưởng tử Trọng Uy của bà, khi ấy Tân gia vinh hiển khắp nhà, nào ai ngờ Lăng Tùng Huấn trấn thủ quận Sóc Phương lại khởi binh mưu phản. Nay trời đất đổi thay chỉ trong khoảnh khắc, chẳng ai biết vận mệnh mình rồi sẽ ra sao. Tựa chiếc lá trôi giữa dòng nước xiết, có lẽ chỉ một con sóng ập tới, vọng tộc trăm năm sẽ chẳng còn tồn tại.

“Phụ thân và đại ca sao vẫn chưa về?” Cư An ngẩng đầu hỏi mẹ ruột, “Phản quân có khi nào…”

Những lời phía sau bị Lưu thị bịt chặt trong lòng bàn tay.

Kinh Triệu Tân thị cùng Thanh Hà Thôi thị, Phù Phong Đậu thị và Cối Kê Cố thị được xưng là tứ đại thế gia. Bốn nhà đời đời có người làm quan lớn, con cháu đều ở trong triều. Gia chủ Tân gia là Tân Đạo Chiêu, giữ chức Ngự sử đại phu. Trước khi triều đình nhận ra phản quân đã công thành, tất cả quan lại như họ đều bị triệu vào cung, cùng bàn kế sách đối phó.

Đang ở giữa vòng xoáy, rốt cuộc có thể toàn thân trở lui hay không đều phải trông vào vận số. Trong lòng mọi người đều hiểu rõ, chỉ có Cư An tuổi trẻ bồng bột, buột miệng nói ra.

Lời ấy khiến Cư Thượng đứng bên cửa sổ ngoảnh đầu nhìn lại.

Chỉ một cái nhìn ấy đã làm lòng Cư An thót lên. Đối với vị trưởng tỷ này, nàng luôn mang theo mấy phần sợ hãi. Không phải vì khác biệt đích thứ, mà bởi nàng thường chẳng thể đoán được tính tình của trưởng tỷ.

Dĩ nhiên, điều này đối với Cư Thượng cũng chẳng dễ chịu gì. Dưới cơn binh lửa, ai nấy đều sống trong cảnh nơm nớp lo sợ, Cư Thượng cũng hoảng hốt chẳng kém. Nhưng trên gương mặt quá đỗi xinh đẹp ấy lại không thể hiện được vẻ sầu não muôn trùng, dường như trời sinh đã thiếu mất nét biểu cảm ấy. Đến cả khi nàng nhíu mày, người ta cũng chẳng nhìn ra nàng đang lo lắng, trái lại còn giống như đang đứng trên cao mà soi xét, chê bai.

Cư An lại sợ đến nghẹn lời. Cư Thượng bất đắc dĩ dời mắt đi.

Đúng lúc ấy, tiếng ồn ào phía xa càng lúc càng dữ dội, mơ hồ lan về phía phường Đãi Hiền. Sắc mặt mấy vị thẩm thẩm trắng bệch. Bởi Tân thị không phân gia, ba phòng cùng sống trong đại trạch, bên ngoài loạn lạc, nữ quyến bèn tụ họp một chỗ. Trong sảnh đường rộng lớn, lúc nào cũng có thể nghe thấy tiếng hít vào kinh hãi và tiếng nức nở bị đè nén.

Nhị thẩm Lý thị bắt đầu lo cho phu quân, lẩm bẩm với con dâu: “Phụ thân con ở Tượng Châu… chẳng biết tình hình thế nào rồi.”

Tam thẩm xuất thân từ Cối Kê Cố thị, trấn tĩnh hơn Lý phu nhân đôi chút, bèn nói: “Lăng thị là vọng tộc đất Bắc, trước đây cũng có đôi chút giao tình với chúng ta. Hơn nữa, giữa các đại tộc thường qua lại mật thiết, nhiều nhà còn kết thân với nhau. Nghĩ rằng họ sẽ không làm gì chúng ta đâu.”

Nhắc đến chuyện kết thân, ánh mắt mọi người lập tức đảo quanh khắp phòng. Nhìn một hồi, họ mới phát hiện trong nhà chẳng có ai mang họ Lăng.

Tân gia và Lăng gia chưa từng thông gia.

Tam thẩm nuốt nước bọt, “Chuyện ấy… không sao, nếu họ bất lợi với tứ đại thế gia thì đừng hòng ngăn được miệng lưỡi người đời. Cả thiên hạ sẽ phỉ nhổ họ nhân cơ hội diệt trừ môn phiệt, mưu đồ độc chiếm thiên hạ.”

Thật ra suy đoán ấy chẳng phải không có căn cứ. Lăng Tùng Huấn dẫn đại quân mưu phản, tiếng tăm đương nhiên chẳng dễ nghe, nhưng ông ta cũng không thể chỉ lo trước mà bỏ mặc sau. Các thế gia đại tộc ngày nay tuy không còn cùng hoàng đế chia sẻ thiên hạ như trước, nhưng uy vọng vẫn còn đó. Mạng lưới quan hệ đan xen phức tạp, gần như vươn ra tận ngoài cửa ải. Bất kể ai trở thành hoàng đế kế tiếp, đều không thể thiếu sự ủng hộ của sĩ tộc.

Đã muốn được ủng hộ thì phải có chỗ dựa. Ít nhất tam thẩm là nghĩ như vậy.

Lời ấy cũng khiến Cư Thượng nảy ra một ý. Nàng đẩy cửa sổ nhìn ra ngoài, lúc này mới phát hiện gia nhân và tỳ nữ trong sân chẳng còn một ai. Trên mái nhà vọng xuống tiếng tên xé gió, vút vút lao qua từ trên cao.

Dương phu nhân kinh hồn táng đảm, vẫy tay gọi: “Mau quay lại đây, đừng đứng bên cửa sổ!”

Cư Thượng lại đang nghĩ đến chuyện khác. “A nương, lấy hai chiếc đèn lồng, treo lên phiệt duyệt đi.”

Phiệt duyệt là những cột ghi công trạng của sĩ tộc. Cố ý thắp đèn trước phiệt duyệt, chẳng qua là một phen đánh cược. Nếu Lăng Tùng Huấn từng hạ lệnh tiêu diệt tứ đại thế gia, đằng nào cũng chẳng ai thoát được; nhưng nếu không có lệnh ấy, phô rõ lai lịch của mình, trái lại có thể tránh bị thương vạ lây.

Tam thẩm rất tán thành chủ ý này: “Đúng, đúng. Phản quân đến càn quét không chỉ có một toán. Nhỡ đâu tên lừa mù nào dẫn đầu xông vào đây, cả phòng nữ quyến chúng ta sẽ tiêu đời.”

Nhưng người bên ngoài nhận lệnh đã không còn, tìm ai truyền lời lại thành vấn đề.

Mọi người nhìn nhau, Cư Thượng không chút do dự xoay người nói: “Để con đi.”

Lúc này Dương phu nhân cuống lên, quả quyết nói không được: “Bên ngoài tên bay như mưa, lỡ xảy ra chuyện gì, ta biết ăn nói thế nào với phụ thân con?”

Cư Thượng muốn mỉm cười trấn an, nhưng bất đắc dĩ chẳng cười nổi, đành dịu giọng: “Con chỉ đi truyền lệnh thôi, sẽ đi nhanh về nhanh, a nương cứ yên tâm.”

Nàng nói xong liền định ra ngoài. Cư An cũng chẳng biết lấy đâu ra gan lớn, bật dậy nói: “A tỷ, muội đi cùng tỷ.”

Cư Thượng không nói gì, xem như đã ngầm đồng ý. Hai tỷ muội chen qua khe cửa, mò mẫm trong bóng tối, chạy đến tiền viện.

Nào ngờ tiền viện chẳng giống như các nàng tưởng tượng: đám tôi tớ trung thành tay cầm binh khí, nghiêm trận chờ địch. Thực ra tiền viện chẳng có lấy một bóng người, ngay cả kẻ đi dò tin cũng chẳng thấy đâu.

Cư An ngơ ngác nhìn a tỷ: “Người đâu cả rồi?”

Cư Thượng thở dài: “Đến lúc này, ai còn lo được cho ai nữa.”

Vậy nên chuyện treo đèn chẳng thể trông cậy vào người khác. May mà dụng cụ đã sẵn có, đèn lồng cũng đã sẵn rồi. Cư Thượng cầm lấy cây sào tựa bên tường, một tay xách một chiếc đèn lồng, ra hiệu cho Cư An mở cửa giúp nàng.

Cư An do dự nhìn nàng. Ánh đèn nơi miệng đèn hắt lên gương mặt nàng; làn da trắng trẻo, ngũ quan càng thêm sắc nét: hàng mi đen, môi đỏ, thoạt nhìn dữ dội như yêu ma.

“Hay là đừng ra ngoài nữa,” Cư An ghìm giọng nói, “Lỡ gặp phản quân thì sao?”

Nhưng Cư Thượng đâu phải cô nương quanh năm khuê môn bất xuất. Nàng có sức sống dồi dào khác hẳn những quý nữ tầm thường. Từ nhỏ, phụ thân và huynh trưởng đã đưa nàng cưỡi ngựa bắn cung. Tuy đến tận hôm nay tài bắn vẫn chẳng tiến bộ bao nhiêu, song nàng gan dạ, lại có sức lực. Lúc này, nàng không chút chần chừ gánh vác trách nhiệm của trưởng tỷ: “Muội không cần ra ngoài, cứ đứng trong ngạch cửa tiếp ứng ta. Đợi ta treo xong một chiếc, muội đưa chiếc còn lại cho ta.”

Cư An vẫn còn tìm cách thoái thác: “Đã nói để hạ nhân treo mà…”

“Quy Quy!” Cư Thượng không rảnh ứng phó với muội muội, mất kiên nhẫn quát một tiếng.

Cư An lập tức xìu xuống. Bởi từ nhỏ nàng đã ốm yếu nhiều bệnh, phụ thân đặt cái tên ấy cho nàng là mong nàng được trường thọ. Ban đầu dĩ nhiên là có ý tốt, lúc nhỏ nàng cũng chẳng thấy bất tiện gì, nhưng càng lớn càng thấy khó xử. Người ta được gọi là Châu, là Bảo, còn nàng lại là “Rùa”. Còn lời trưởng tỷ nói rằng rùa mai mềm là ba ba, rùa thì là rùa, đương nhiên nàng cũng chẳng tán đồng.

Cư Thượng hành động rất dứt khoát, đã quyết thì phải lập tức làm ngay. Bên ngoài binh hoang mã loạn, biết đâu mới khoảnh khắc trước các nàng còn đang chần chừ, khoảnh khắc sau cổng lớn đã bị phá tung.

Nàng chẳng nói chẳng rằng nhét một chiếc đèn lồng vào tay Cư An, còn mình nghiêng tai áp sát khe cửa lắng nghe. Ngoài phố yên ắng, phản quân tạm thời vẫn chưa đánh vào phường Đãi Hiền.

Lúc này không treo đèn thì còn đợi khi nào? Nàng vội nháy mắt ra hiệu cho Cư An. Cư An cũng biết không thể chần chừ thêm nữa, một tay xách đèn, tay kia nâng then cửa. Tiếc rằng then cửa quá nặng, một tay không nhấc lên nổi. Cư Thượng đành đặt cây sào và đèn lồng xuống, cùng nàng hợp sức mới mở được cửa.

Lạ thay, trong cửa và ngoài cửa tựa như hai thế giới. Không khí nơi phường viện lẫn mùi gỗ cháy khét, thêm những người dân trong thành thỉnh thoảng hốt hoảng chạy trốn ngang qua, cả thế gian như chìm trong nỗi kinh hoàng.

Cư Thượng đứng nhìn một hồi, xác định không có phản quân mới nhấc vạt váy bước qua ngạch cửa.

Cửa nhà Tân gia hiển hách, biển hiệu phiệt duyệt tự nhiên cũng cao lớn. Hai cây cột ấy ngày thường nàng chẳng mấy để tâm, nhưng hôm nay treo đèn mới nhìn rõ: bên trái là chữ “Phiệt”, ghi chép công nghiệp; bên phải là chữ “Duyệt”, ghi chép quan lộ. Theo ánh đèn từng chút một lên cao, vẻ huy hoàng của tổ tiên Tân thị đời đời cũng được tường tận tái hiện trước mắt nàng.

Thế nhưng Cư An đang thò người nhìn ngóng bên ngoài thì sợ đến hồn vía gần như bay mất. Khi trưởng tỷ ngẩng đầu giơ đèn lên cao, một đội nhân mã từ cửa Diên Bình xông vào. Vì cách quá xa nên không nhìn rõ mặt mũi, nhưng đám người ấy mặc giáp đen, vừa nhìn đã biết không phải quân phòng vệ trong thành, đang nhanh chóng lao thẳng về phía này.

“A tỷ! A tỷ!” Cư An giậm chân, “Mau về đi! Mau lên!”

Cư Thượng cũng nghe thấy tiếng vó ngựa. Nỗi sợ hãi khôn cùng bóp nghẹt cổ họng nàng. Nàng chẳng dám ngoái đầu nhìn lấy một lần, vội vàng xách váy chạy vào cửa, luống cuống cùng Cư An cài then lại.

“Làm sao đây? Bọn chúng nhất định nhìn thấy tỷ rồi!” Cư An hoảng loạn hoa tay múa chân, “Đám phản quân ấy cưỡi ngựa cao lớn, giết vào rồi!”

Cư Thượng đương nhiên biết tình hình không ổn, vội bịt miệng muội muội, kéo nàng sang một bên. Nàng tự trấn định lại, ghé mắt nhìn ra ngoài qua khe cửa, trông thấy trên con đường phường vắng lặng có một đoàn người ngựa kéo đến. Giữa cơn kinh sợ tưởng chừng ngập đầu, đoàn người khẽ dừng lại trong chốc lát, rồi thoắt cái đã lướt qua.

Vậy là thành công rồi ư? Trải qua phen hiểm nguy ấy mà vẫn thoát nạn, ít nhất cũng chứng tỏ hiện giờ họ đã an toàn.

Cư Thượng và Cư An mừng rỡ một hồi, vội trở về hậu viện, kể lại chuyện vừa rồi cho mọi người nghe. Mọi người đều thấy may mắn vì thoát khỏi kiếp nạn, nghĩ rằng Lăng Tùng Huấn mưu nghịch thì cứ mưu nghịch, nhưng vẫn còn biết đến đạo nghĩa, chí ít cũng không dung túng thuộc hạ làm chuyện liên lụy đến người vô tội.

Phong Ninh công chúa lại nghe ra nỗi chua xót khác trong những lời ấy, bèn che mặt khóc òa lên. Nàng là con gái đã xuất giá, chính vì không còn ở nhà mẹ đẻ nên vào ngày thay triều đổi đại, may mắn giữ được một mạng. Người nhà chồng nàng, thế là lại phải cảm tạ nghịch tặc.

Tiếng khóc của công chúa vang lên giữa đám đông, mọi người đành ngượng ngùng ngậm miệng. Cư Thượng không biết nên an ủi trưởng tẩu thế nào, chỉ đành nắm tay nàng, dịu giọng nói: “Đợi ngày mai phụ thân trở về, chúng ta sẽ biết tình hình trong cung.”

May sao đêm ấy vẫn bình an. Từ canh tư, tiếng chém giết dần lắng xuống. Mọi người thấp thỏm chờ trời sáng, sốt ruột nhận ra khoảng thời gian ấy lại dài đằng đẵng khác thường.

Đám tôi tớ trong nhà vốn trốn còn sâu hơn cả gia chủ bắt đầu đi lại, lấy hết can đảm ra ngoài nghe ngóng tin tức, kể nhà này bị cướp bóc, nhà kia lại chết mấy người.

Trong thành Trường An, người người nơm nớp lo sợ, từng cửa phường đều bị phong tỏa, chẳng ai biết tình hình trong triều ra sao. Cả nhà chờ đợi suốt một ngày một đêm, càng đợi càng hoảng hốt. Mãi đến quá trưa ngày hôm sau, họ mới nghe thấy tiếng gõ cửa từ bên ngoài vọng vào.

Mọi người đều chạy ra. Cửa vừa mở, họ đã thấy gia chủ mặt mũi lấm lem, tay xách một xâu bánh ú bước qua ngạch cửa. Ông đi đến trước hành lang, ngồi thẫn thờ xuống bậc thềm, sắc mặt tái nhợt nói: “Hôm nay là Tết Đoan Ngọ, Quang Lộc tự đã bày tiệc dưới hành lang①. Lịch Quốc công ban bánh ú, ta ăn không hết nên mang về.”

Lời tác giả:

① Tiệc dưới hành lang: bữa ăn dành cho quan viên sau buổi chầu ở triều đình thời Đường.